Các thị trường logistics tiềm năng trong 5 năm tới theo thống kê từ Statista

Các thị trường logistics tiềm năng trong 5 năm tới theo thống kê từ Statista

Thống kê sau đây được thực hiện bởi Statista, kết hợp với Transport Intelligence về tiềm năng tăng trưởng của các thị trường logistics mới nổi trong 5 năm tới.

Khảo sát được thực hiện từ tháng 9 đến tháng 11 năm 2017 về tiềm năng phát triển ngành logistics trong vòng 5 năm tới, với câu hỏi “Ông/bà cho rằng những quốc gia nào sau đây có tiềm năng lớn nhất trong việc phát triển thị trường logistics trong 5 năm tới?”. Đối tượng của khảo sát là 529 chuyên gia trong ngành logistics và ngành dọc có kinh nghiệm nhiều năm tiếp xúc và làm việc trong các thị trường mới nổi này.

Với trên 17%, hai quốc gia là Trung Quốc và Ấn Độ là hai thị trường mới nổi được đánh giá là có tiềm năng phát triển nhiều nhất trong ngành logistics trong vòng 5 năm tới. Kế đến không thể không nhắc đến Việt Nam, quốc gia đứng thứ 3 trong danh sách này, một thị trường mới nổi với chiếc bánh logistics hứa hẹn 40 tỷ USD/năm.

Sàn vận tải STB: Mô hình hợp tác giao hàng kênh siêu thị trên nền tảng hệ sinh thái Smartlog

Sàn vận tải STB: Mô hình hợp tác giao hàng kênh siêu thị trên nền tảng hệ sinh thái Smartlog

Tiếp theo sự kiện ra mắt Sàn giao dịch vận tải Smartlog Transport Bidding – STB, VSCI sẽ liên tục chia sẻ những sáng kiến giảm chi phí vận tải từ sàn giao dịch ứng dụng công nghệ 4.0 này.

[Sàn giao dịch vận tải STB – Phần 1]: Đề xuất hợp tác giảm chi phí giao hàng kênh siêu thị

Giao hàng kênh siêu thị vốn là vấn đề đau đầu của nhiều nhà vận tải và là một trong những điểm tồn động nhiều lãng phí nhất trong chuỗi cung ứng downstream.

Và cũng không ít doanh nghiệp vận tải vật lộn với nhiều cách khác nhau để cắt giảm chi phí và sự vất vả cho người vận hành trong quá trình thực hiện giao hàng cho kênh này, chẳng hạn như gom hàng về trung tâm, chạy milk-run, kết hợp thông tin với nhà máy và siêu thị để có kế hoạch điều tải trước, v.v. Thế nhưng những giải pháp đó đều dừng ở mức cục bộ doanh nghiệp, có thực thi trên diện rộng hoặc có duy trì.

 

Cụ thể, giải pháp phù hợp nhất hiện nay là GIẢM SỐ LƯỢT XE ĐẾN SIÊU THỊ bằng cách kết hợp tải, chủ yếu lại được thực hiện từ phía nhà sản xuất chứ không phải tại siêu thị. Trong khi đó, ở phía SIÊU THỊ có quá nhiều rào cản (constraints) không dễ tháo gỡ so với từ phía Nhà sản xuất. Cho nên, chỉ cần tư duy lại vấn đề, đẩy áp lực sắp xếp về phía nhà sản xuất thì việc giải quyết trở nên nhẹ nhàng hơn. 

Smartlog đã giới thiệu giải pháp kết hợp vận tải của nhiều nhà sản xuất để giải bài toán giao hàng cho kênh siêu thị sử dụng nền tảng công nghệ 4.0, trong đó kết nối thông tin giữa nhà kho của nhà máy thông qua Hệ thống quản lý kho SWM (Smartlog Warehouse Mangagement) và nhà vận tải qua hệ thống sàn giao dịch vận tải STB (Smartlog Transport Bidding) và tất cả các vận hành được kiểm soát thông qua hệ thống quả n lý vận tải STM (Smartlog Transport Management). Nhờ vậy, toàn bộ thị trường được kết nối với nhau tạo ra khả năng tối ưu hóa cho toàn hệ thống, không còn tình trạng cục bộ.

Dưới đây là video trực tiếp tại buổi chia sẻ

https://youtu.be/iq4ltucPZ24

Hiện nay hệ thống STB của Smartlog đã sẵn sàng phục vụ. Chủ hàng và nhà vận tải quan tâm xin hãy liên hệ Smartlog để được tư vấn gia nhập nền tảng.

Phòng tránh sự cố trong chuỗi cung ứng: Bài học từ thất bại của KFC

Phòng tránh sự cố trong chuỗi cung ứng: Bài học từ thất bại của KFC

Thất bại của KFC là bài học đắt giá cho tất cả doanh nghiệp trong việc quản lý chuỗi cung ứng. Nhằm phòng tránh các sự cố có thể diễn ra, doanh nghiệp cần có những biện pháp đảm bảo tính minh bạch, rõ ràng của chuỗi cung ứng khi sử dụng các công ty 3PL. Bài viết để xuất một số điểm mà doanh nghiệp cần lưu ý khi quản lý một chuỗi cung ứng với sự có mặt của các công ty 3PL một cách hiệu quả.

Sự cố xảy ra vào tháng 2 năm 2018 trong chuỗi cung ứng gà rán Kentucky tại Anh là một lời cảnh báo về vấn đề của chuỗi cung ứng mà bất cứ doanh nghiệp nào cũng có thể gặp phải.

2/3 trong số gần 900 địa điểm bán hàng tại Anh của KFC bị thiếu nguyên liệu từ thịt gà, nước sốt và các loại gia vị khác. Sau 2 tháng kể từ đợt khủng hoảng đầu tiên, chỉ gần một nửa số cửa hàng có thể đáp ứng đầy đủ các món ăn được đưa ra trong thực đơn, theo HuffPost Anh.

Sự cố này không chỉ là cơn ác mộng về PR và logistics cho các nhà quản lý mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận của doanh nghiệp, theo báo cáo ngày 02/05 từ công ty mẹ của KFC, Yum Brands.

Đã có vấn đề gì xảy ra và làm sao để các doanh nghiệp khác tránh bị rơi vào trường hợp tương tự?

Sự cố chính xảy ra khi chuỗi cung ứng thay đổi nhà điều phối từ một công ty chuyên về điều phối thực phẩm sang một công ty giao nhận lớn, sở hữu rất ít tài sản hữu hình (đặc trưng của công ty cung cấp dịch vụ logistics theo hợp đồng – 3PL), DHL. Các công ty 3PL này hoạt động dựa trên mạng lưới tài sản phức tạp được chắp nối giữa các công ty vận tải.

Các doanh nghiệp cần có những biện pháp cụ thể để xây dựng tính minh bạch trong mạng lưới các nhà cung ứng khi họ sử dụng dịch vụ của công ty 3PL:

  • Làm việc với đối tác 3PL về việc sử dụng nhà vận chuyển nào cho đơn hàng đồng thời đảm bảo các tiêu chuẩn về chất lượng và độ an toàn được truyển đạt đầy đủ cho công ty vận chuyển thông qua hợp đồng giữa công ty này với công ty 3PL.
  • Xác định rõ ràng chỉ số đánh giá thực hiện công việc đối với đối tác 3PL và những tiêu chuẩn cơ bản đối với nhà vận chuyển mà công ty 3PL này sử dụng.
  • Thực hiện kiểm tra trực tiếp với ít nhất một lớp nhà cung ứng của đối tác 3PL về chất lượng, tính liên tục trong hoạt động doanh nghiệp và độ an toàn trong việc thực thi.

Ngoài ra, các doanh nghiệp nên xác định các khu vực nơi mà chuỗi cung ứng đi qua dễ bị ảnh hưởng bởi các vấn đề ở địa phương, từ đó xây dựng các phương án dự phòng tại các địa điểm này nhằm tránh sự gián đoạn hay sự tắc nghẽn chuỗi cung ứng. Các sự kiện địa phương gây ảnh hưởng nhỏ nhưng thường xuyên xảy ra có thể tạo ra những rủi ro cho chuỗi cung ứng trên toàn thế giới mà không cần phải tạo nên bất kì tin tức nào. Những rủi ro này có thể trở thành “rủi ro lan truyền” khi sự gián đoạn trong một phần của chuỗi cung ứng tạo nên những vấn đề khác cho các công ty tuyến dưới.

Các doanh nghiệp nên nói chuyện với các nhà cung ứng về sức ảnh hưởng của các sự kiện địa phương và những kế hoạch dự phòng nào có sẵn cũng như liên hệ với các chuyên gia địa chính trị, những người có thể đưa ra bối cảnh và phân tích một cách khách quan.

Trao đổi và hợp tác giữa các nhóm kiểm sát chuỗi cung ứng – xây dựng hoạt động doanh nghiệp, mua hàng, logistics, v.v – là yếu tố cơ bản để giảm tình trạng làm việc đơn lẻ và rủi ro trên toàn chuỗi. Hiện nay các doanh nghiệp đang cố gắng đơn giản hóa và nâng cao chuỗi cung ứng nhằm tăng tính hiệu quả và lợi nhuận. Tuy nhiên, Pelli cũng cảnh báo rằng việc giảm bớt phần dư có thể gây ra rủi ro và tăng khả năng gặp sự cố cho chuỗi.

Chuỗi cung ứng phức tạp có thể ẩn chứa chuỗi “kim cương”, trong đó hầu hết các nhà cung ứng lấy hàng từ một nhóm nhỏ nhà sản xuất. Ví dụ, phẩm màu nhuộm được dùng trong nhiều ngành chế tạo thực ra được sản xuất bởi vài công ty trong cùng một vùng ở Nhật Bản. Một thiên tai xảy ra trong vùng có thể làm tạm dừng việc sản xuất phẩm màu, dẫn đến sự gián đoạn cho tất cả các ngành dùng loại phẩm màu này.

Việc chỉ có một công ty thực hiện điều phối tất cả các hoạt động có thể dẫn đến cấu trúc “hành tây” với nhiều lớp hợp đồng thuê chính và hợp đồng thuê các cấp thấp hơn. Cấu trúc này làm giảm khả năng xác định ai hiện đang giữ hàng của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định, dẫn đến khó khăn trong việc đảm bảo chất lượng và an toàn xuyên suốt chuỗi phân phối.

Trong một số trường hợp, doanh nghiệp có thể phát triển bền vững dài hạn bằng cách sử dụng một danh sách các công ty logistics đã được xác nhận, giao các tuyến hàng cho từng công ty dựa vào nơi mà mạng lưới phân phối cùa các công ty này dày đặc và mạnh nhất. Doanh nghiệp theo đó có thể so sánh hiệu suất làm việc giữa các tuyến và giao cho nhà cung ứng tốt nhất.

Việc thuê nhiều công ty cung ứng logistics cũng được xem là một chính sách đảm bảo. Trong trường hợp một công ty không thể tiếp tục hoạt động, công ty khác có thể thay thế.

Nếu các doanh nghiệp thực hiện các phương pháp phòng tránh cơ bản nhằm bảo vệ tính thống nhất của chuỗi cung ứng, họ có thể hoạt động một cách liên tục – tránh được các vấn đề nhức nhối và tin tức bất lợi trong tương lai.

Theo Supply Chain Management Review

10 điều cần biết về nghệ thuật châm hàng trong bán lẻ

10 điều cần biết về nghệ thuật châm hàng trong bán lẻ

Người quản lý châm hàng (replenishment) chịu trách nhiệm đảm bảo rằng các mặt hàng được thay thế ngay khi chúng rời khỏi kệ – cho dù chúng đã được khách hàng cuối mua hay bị chuyên gia bán lẻ loại bỏ vì hư hỏng hay tồn lâu. Cốt lõi của nỗ lực này là quản lý hàng tồn kho, khi nhà quản lý châm hàng phải cân đối cực kỹ giữa việc thiếu dự trữ hàng và cung vượt cầu.

Khi người quản lý châm hàng đến bàn làm việc mỗi buổi sáng, nhiệm vụ đầu tiên của họ là kiểm tra dữ liệu bán hàng và tồn kho từ ngày làm việc trước cũng như bất kỳ vấn đề phát sinh nào do giao dịch của ngày làm việc trước đó. Các vấn đề chính được phát hiện nên được ưu tiên bởi độ nhạy thời gian và tác động đến kinh doanh bằng tiền. Ví dụ: có mặt hàng nào bán rất chạy nhưng lại thiếu dự trữ không? Nếu vậy, công ty có thể mất hàng triệu đô la doanh thu vì mặt hàng đó bị thiếu trong các kệ hàng. Người quản lý châm hàng phải xác định nguyên nhân cơ bản của sự mất cân đối này – do thiếu hụt nhà cung cấp, do phần mềm quản lý châm hàng,do  sự cố trong chuỗi cung ứng hay do tính toán số liệu tồn kho không chính xác. Sau đó, họ phải tìm ra và thực thi một giải pháp.

Quản lý châm hàng sẽ bắt tay vào công việc số một của họ: sửa đổi và điều chỉnh dự báo. Sau đây là những điều cần thiết để hướng tới mục tiêu này.

1. Đánh các KPI chính gắn với chiến lược, hiệu suất và các bên liên quan.

Đối với các nhà quản lý châm hàng, KPI thường là trạng thái tồn kho, tỷ lệ dịch vụ khách hàng, và ngày đến. Theo Từ điển APICS, lưu kho mô tả các mặt hàng trong kho hoặc các sản phẩm được lưu trữ hoặc các bộ phận dịch vụ sẵn sàng để bán. Tỷ lệ dịch vụ khách hàng được định nghĩa là “thước đo dịch vụ giao phân phối của hàng hóa thành phẩm”. Ngày đến là “ngày vật liệu được mua phải đến được điểm tiếp nhận”.

 2. Biết tỷ lệ bán của từng mặt hàng.

Giả sử một mặt hàng mới sẽ được bán tại 500 cửa hàng bán lẻ và dự kiến ​​hai đơn vị sẽ được bán cho mỗi cửa hàng mỗi tuần. Do đó, dự báo hàng tuần sẽ là 1.000 đơn vị. Hầu hết các hệ thống đặt hàng đều được tự động hóa, do đó, chúng sẽ kích hoạt một đơn đặt hàng cho một mặt hàng khi nó còn lại một số đơn vị nhất định trên giá. Nhiệm vụ của các nhà quản lý châm hàng là điều chỉnh con số này tùy thuộc vào nhu cầu kinh doanh. Lưu ý rằng số lượng đơn vị có thể được đặt cao hơn sức chứa của kệ nếu, ví dụ, các sản phẩm đang được quảng cáo và hệ thống cần đặt hàng phù hợp với khả năng chứa của kệ và nhu cầu quảng cáo.

Đôi khi hệ thống có trục trặc, và quá trình đặt lố hàng xảy ra. Việc đó phải được xử lý ngay lập tức. Quản lý cấp cao, nhà cung cấp, trung tâm phân phối và tất cả các bên liên quan khác cần được thông báo để không thực hiện lệnh. Không đặt hàng đủ cũng là mviệc người quản lý châm hàng phải giải quyết một cách nhanh chóng. Các nhà cung cấp cần phải theo dõi đơn đặt hàng của họ hàng ngày và đưua ra bất kỳ vấn đề nào của các đơn đặt hàng bị thiếu cho nhà quản châm hàng biết.

Ngoài ra, khi một nhà buôn quyết định thay thế một mặt hàng bằng một mặt hàng khác (SKU), sẽ có thời gian chuyển đổi từ các mặt hàng cũ sang các mặt hàng mới. Thông thường, nhiệm vụ của các nhà quản lý châm hàng là làm việc với các nhà cung cấp để đảm bảo các mặt hàng mới sẵn sàng lên kệ. Nếu các nhà cung cấp chậm trễ, các nhà quản lý châm hàng phải báo cáo vấn đề cho người bán và cấp trên.

3. Làm việc với người bán để đạt được mục tiêu.

Có lẽ khi một người mua quyết định sẽ mua một sản phẩm nào đó là để giành thị phần hoặc như để khuyến khích mua sắm. Chiến lược châm hàng phải phù hợp với kế hoạch này để đạt được các mục tiêu chung. Khả năng chứa cũng là một yếu tố quan trọng. Trong lĩnh vực bán lẻ, không gian chứa đồ có hạn, vì vậy mỗi nhà sản xuất phải chiến đấu để giành một phần nhỏ không gian chứa đó. Ngay cả khi mặt hàng của bạn đã có chỗ đứng trên giá của nhà bán lẻ, một trận chiến để đoạt được sự chú ý của người tiêu dùng xảy ra ngay sau đó. Người quản lý châm hàng phải lùi lại để đảm bảo rằng không gian kệ khó kiếm được của họ không bị trống khi khách hàng đến xem. Để làm điều này, cần xác định số lượng đơn vị hàng sẽ đủ từ quan điểm của người tiêu dùng, và quan trọng nhất là có bao nhiêu đơn vị để đạt tồn kho an toàn.

4. Theo sát những biến chuyển trong thế giới nhà cung cấp, và duy trì mối quan hệ hợp tác trung thực với các nhà cung cấp.

Tất yếu là các nhà cung cấp được mua lại, thay đổi nhà cung cấp dịch vụ và di chuyển các địa điểm sản xuất. Tất cả những thay đổi này ảnh hưởng đến dòng chảy của chuỗi cung ứng và gây gián đoạn hàng tồn kho. Người quản lý châm hàng phải chuẩn bị đầy đủ cho tất cả các sự kiện kiểu này. Sử dụng các KPI đã đề cập ở trên để đánh giá hiệu quả của các mối quan hệ và liệu các nhà cung cấp có đang thực hiện các đơn đặt hàng ở mức 100 phần trăm hay không. Nếu không, hãy tìm hiểu lý do và khắc phục sự cố. Có thể xem xét hợp tác với các nhà cung cấp của bạn để tối ưu hóa việc vận chuyển bằng cách thực hiện kiểm toán thời gian giao hàng hai lần một năm.

5.  Chú ý thời gian giao hàng của nhà cung cấp và xác định các chu kỳ đặt hàng thích hợp.

Quản lý châm hàng nên nắm thời gian giao hàng của nhà cung cấp để lên kế hoạch tốt hơn cho các mặt hàng lên giá. Điều này thay đổi tùy thuộc vào tầm quan trọng của vật phẩm, nơi sản phẩm được sản xuất và phương thức vận chuyển. Từ điển APICS định nghĩa chu trình đặt hàng là “tiến trình của một công ty bắt đầu với việc nhận đơn đặt hàng của khách hàng và kết thúc với việc giao hàng cho khách hàng đó.” Các mặt hàng tiêu thụ nhanh thường nên được đặt hàng từ nhà cung cấp hàng ngày. Các mặt hàng tiêu thụ châm hơn có thể được đặt hàng một lần một tuần. Điều này giúp các nhà quản lý châm hàng lập kế hoạch lượng hàng tồn kho cần thiết tại một cửa hàng.

 6.  Tìm hiểu để xác định tính thời vụ trong kinh doanh và theo dõi các chương trình khuyến mãi.

Một số mặt hàng có liên quan theo mùa, do đó, các nhà quản lý châm hàng phải tổ chức hàng tồn kho theo mùa cao điểm để đáp ứng nhu cầu thị trường. Các sản phẩm khác có thể có nhu cầu cao hơn trong một số mùa mua sắm nhất định. Các nhà quản lý châm hàng nên cộng tác với các nhà cung cấp để họ sẵn sàng cung cấp lượng hàng tồn kho cao hơn bình thường vào những thời điểm này. Tất cả các bên liên quan – bao gồm các chuyên gia sản xuất, vận chuyển và bán lẻ – phải được tham gia vào quy trình này và chuẩn bị để hỗ trợ cho sự gia tăng nhu cầu.Chương trình khuyến mãi cũng làm thay đổi nhu cầu. Do đó, các nhà quản lý châm hàng phải làm việc cùng với các chuyên gia tiếp thị để lên kế hoạch cho nhu cầu dự kiến. Xem xét thời điểm quảng cáo sẽ bắt đầu, thời gian quảng cáo sẽ kéo dài bao lâu, các chuyên gia tiếp thị bán hàng dự đoán điều gì và nhà cung cấp có sẵn sàng phân phối lượng hàng gia tăng không. Tất cả những điểm này cần được cân nhắc đồng bộ để tránh bị thiếu hụt hàng.

7.  Hiểu dòng chảy của mặt hàng trong chuỗi cung ứng.

Các mặt hàng trực tiếp đến cửa hàng (Direct-to-store items) là những mặt hàng di chuyển từ nhà máy đến nhà bán lẻ. Cross-docking được sử dụng để nhận các vật phẩm từ nhà sản xuất đến chỗ gom hàng, hoặc một trung tâm phân loại và sau đó đến nhà bán lẻ. Và các mặt hàng lưu kho (staple-stock items) được định nghĩa là những mặt hàng đi từ nhà sản xuất đến kho lưu trữ trước khi đi vào nhà bán lẻ. Nếu người quản lý châm hàng muốn đảm bảo có lượng hàng đầy đủ trên giá khi cần, thì cần phải tính toán thời gian chờ cho từng phương pháp phân phối riêng biệt này. Sau đó, sử dụng số đó để đảm bảo nguồn cung cấp liên tục.Thời gian giao hàng chính xác cũng đòi hỏi sự hiểu biết về các phương thức vận tải khác nhau, cho dù qua đa phương thức, vận chuyển, hàng không, đường sắt, xe tải hoặc tàu sân bay như FedEx và UPS. Và xem thời tiết: Các điều kiện đường xá rất quan trọng, vì vậy các nhà quản lý châm hàng phải bám sát thời tiết khắc nghiệt và chuẩn bị trước sớm.

8.  Xác định các mục hàng bán chạy và lưu kho.

Về vấn đề này, bạn nên sử dụng nguyên lý Pareto, quy định rằng một tỷ lệ nhỏ nhóm hàng chiếm phần lớn tác động của nó. Đối với các nhà quản lý châm hàng, điều này có thể hiểu là 80 phần trăm doanh số bán hàng đến từ 20 phần trăm các mặt hàng. Do đó cần đảm bảo lưu trữ tốt các SKU để bảo vệ thị phần của doanh nghiệp.

9.  Duy trì một dự báo chính xác.

Nhà quản lý châm hàng chịu trách nhiệm về việc dự báo, và dự báo phải phản ánh chính xác nhu cầu trên thị trường và tránh lưu dư hoặc thiếu hụt hàng. Xem xét việc thực hiện việc hoạch định hợp tác, dự báo và châm hàng (collaborative planning, forecasting, and replenishment CPFR) để điều chỉnh cung và cầu. Từ điển APICS định nghĩa CPFR như sau: “Một quá trình hợp tác trong đó các đối tác kinh doanh trong chuỗi cung ứng có thể cùng nhau lập kế hoạch hoạt động chuỗi cung ứng chủ yếu từ sản xuất và cung cấp nguyên liệu thô đến sản xuất và phân phối sản phẩm cuối cùng cho khách hàng cuối cùng, và tất cả các hoạt động cần thiết để bổ sung nguyên liệu và thành phẩm”.

10. Chú ý chăm sóc hàng hoá.

Mặc dù đây không phải là trách nhiệm trực tiếp của các nhà quản lý châm hàng nhưng việc duy trì dữ liệu ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của công việc họ làm. Ở một số công ty, các chuyên gia đặt hàng tạo và duy trì các mặt hàng; ở một số công ty khác, nhóm bảo trì dữ liệu phụ trách việc này. Dù bằng cách nào, các nhà quản lý châm hàng cần có mối quan hệ tốt với các đội này vì công việc sẽ bị ảnh hưởng rất nhiều nếu các mã hàng không được thiết lập chính xác trong hệ thống và do đó không thể theo dõi được trong suốt chuỗi cung ứng.

Các nhà quản lý châm hàng đóng vai trò quan trọng trong chuỗi cung ứn. Quá nhiều tình huống tồn kho và thừa cung có thể có ảnh hưởng bất lợi đến doanh nghiệp, do đó, người quản lý châm hàng thành công là tài sản quan trọng của công ty. Thực hiện theo các hướng dẫn này là một phương pháp đã được chứng minh để đạt được số dư hàng tồn kho phù hợp để đáp ứng nhu cầu của khách hàng.

Theo APICS Magazine

Blockchain là gì?

Blockchain là gì?

Gần đây, chúng ta thường nghe nói về Blockchain. Một số người tin rằng nó sẽ thay đổi thế giới của chúng ta theo hướng tốt hơn, và nó có thể sẽ thay thế các ngân hàng truyền thống- hoặc những việc to lớn tương tự.

Mặc dù blockchain bắt đầu được chú ý khi thị trường mã hóa bùng nổ, phần lớn mọi người vẫn không hiểu nó hoạt động như thế nào, nó được ứng dụng ra sao và một mớ thống tin về nó.

Trong bài này, tôi sẽ trả lời tất cả các câu hỏi của bạn liên quan đến blockchain, nút (node), sổ kế toán (ledger) và tính bảo mật của blockchain. Mục đích nhằm giải thích blockchain đơn giản để bất cứ ai cũng có thể hiểu được nó.

Lưu ý: Trong hướng dẫn này, tôi sẽ giải thích các khái niệm blockchain hoạt động như thế nào – Tôi sẽ không giải thích cách công nghệ blockchain được triển khai chi tiết như thế nào, vì nó nằm ngoài phạm vi của bài viết này.

Bắt đầu nhé.

Khái niệm về Blockchain là gì?

Đầu tiên, điều quan trọng là chúng phải hiểu hai thuật ngữ cơ bản khác nhau.

  1. Bitcoin (loại tiền kỹ thuật số)

Điều quan trọng là phải hiểu rằng Bitcoin không phải là một blockchain. Đây là thứ khiến nhiều người bối rối. Bitcoin chỉ đơn thuần là một loại tiền kỹ thuật số dựa trên công nghệ blockchain.

  1. Blockchain

Blockchain là công nghệ cho phép việc di chuyển các tài sản kỹ thuật số – ví dụ như Bitcoin từ một cá nhân sang một cá nhân khác.

Vậy, khái niệm về blockchain chính xác là gì?

Để hiểu rõ hơn, chúng ta hãy xem xét một ví dụ về một vấn đề hiện tại mà blockchain cố gắng giải quyết – việc chuyển tiền.

Hãy tưởng tượng tôi (Bill) muốn gửi tiền cho bạn của tôi, Jenny. Theo truyền thống, điều này được thực hiện thông qua một bên thứ ba đáng tin cậy (ngân hàng hoặc công ty thẻ tín dụng) giữa chúng tôi.

Giả sử tôi sống ở New York, trong khi Jenny sống ở London.

Khi tôi muốn gửi một số tiền cho Jenny, tôi yêu cầu bên thứ ba gửi cho cô ấy. Đổi lại, bên thứ ba sẽ xác định Jenny và tài khoản ngân hàng của cô ấy.

Khi đã hoàn tất, bên thứ ba sẽ chuyển tiền vào tài khoản cá nhân của Jenny, đồng thời cũng tính một khoản phí giao dịch nhỏ.Quá trình này thường mất 3-5 ngày.

Còn bây giờ, toàn bộ khái niệm đằng sau công nghệ blockchain tập trung vào việc loại bỏ bên thứ ba đáng tin cậy đó, tức là người trung gian.

Ngoài ra, blockchain nhằm mục đích hoàn thành quá trình này nhanh hơn nhiều so với hệ thống hiện tại – gần như ngay lập tức!

Cuối cùng, blockchain cố gắng thực hiện quy trình này với phí giao dịch thấp hơn nhiều (phí giao dịch rất thấp).

Chúng ta hãy xem cách công nghệ blockchain giải quyết vấn đề chuyển tiền này như thế nào. Có nhiều nguyên tắc/khái niệm khác nhau liên quan.

 

  1. Ledgers( số cái/sổ kế toán):

Trên Investopedia, sổ kế toán được định nghĩa là:

“Tập hợp các tài khoản được đánh số của công ty nhằm lưu lại các giao dịch kế toán của công ty. Sổ cái cung cấp một hồ sơ hoàn chỉnh các giao dịch tài chính trong suốt quá trình hoạt động của công ty.

Sổ cái nắm giữ thông tin tài khoản cần thiết để chuẩn bị báo cáo tài chính và bao gồm các tài khoản cho tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu, doanh thu và chi phí. ”

Nói một cách đơn giản, sổ cái là nơi một “chuỗi” các giao dịch được liên kết với nhau, tạo ra một hồ sơ giao dịch tài chính.

Thuật ngữ “Sổ cái mở (Open Ledger)” có nghĩa là bất cứ ai cũng có thể tham gia vào mạng lưới của sổ kế toán, và tất cả các giao dịch được lưu trữ trong một sổ kế toán. Mạng lưu tất cả dữ liệu giao dịch trong một sổ kế toán tập trung (bộ nhớ).

Một “sổ cái phân tán” (Distributed Ledger) về cơ bản giống như một “Open Ledger” vì cả hai đều có thể truy cập cho bất cứ ai. Sự khác biệt chính ở đây là một sổ kế toán phân tán được phi tập trung hoá (Decentralized), có nghĩa là tất cả mọi người trong network đều sở hữu một “bản sao” của sổ cái trên một nút (node).

“Nút” là một từ khác chỉ một thiết bị mà những người tham gia trong mạng lưới sở hữu, chứa một bản sao của sổ cái mở.

Bạn có thể sử dụng thuật ngữ “nút” để viết tắt chỉ người tham gia trong chuỗi sổ cái phân tán (distributed ledger). Vì vậy, các ví dụ bên dưới chứa 4 “nút”.

  Sổ cái mở:

Để bạn hiểu rõ về khái niệm này, trước tiên tôi sẽ minh họa bằng một ví dụ.

Ví dụ, hãy tưởng tượng rằng có một mạng lưới gồm 4 cá nhân: Bill, Jenny, Mark và Justin. Mỗi cá nhân trong mạng này muốn gửi và nhận tiền đến/từ một người khác.

Ban đầu, tôi (Bill) có 20 đô la. Khái niệm về sổ cái mở và cách triển khai nó trong tình huống này hoạt động như sau.

Hãy tưởng tượng rằng có một vài giao dịch được thực hiện giữa 4 cá nhân này.

  1. Bill chuyển $10 cho Jenny
  2. Jenny chuyển $5 cho Justin
  3. Justin chuyển $3 cho Mark

Mọi giao dịch được đăng ký và liên kết với các giao dịch đã tồn tại trong sổ cái mở. Điều đó có nghĩa rằng, trong ví dụ này, có 4 liên kết giao dịch trong chuỗi của sổ cái mở, cho biết giao dịch nào được thực hiện và cho ai.

Chuỗi giao dịch trong sổ cái mở cho phép bất kỳ ai cũng có thể truy cập và xem được. Điều đó có nghĩa là mọi người trong mạng đều có thể xác định được số tiền đang ở đâu và số tiền mà mỗi cá nhân có.

Ngoài ra, mỗi cá nhân trong mạng của sổ cái mở có thể quyết định liệu một giao dịch trong chuỗi có hợp lệ hay không hợp lệ.

Hãy quay trở lại ví dụ trên, tôi sở hữu 20 đô la khi bắt đầu chuỗi và tôi đã chuyển 10 đô la sang Jenny (vì vậy, tôi còn lại 10 đô la). Nhưng bây giờ, tôi cố gắng gửi thêm 15 đô la cho Mark.

Do đó, tất cả mọi người trên mạng đều có thể xác định giao dịch này là giao dịch không hợp lệ, vì tôi thiếu $ 5. Do đó, giao dịch này sẽ không được thêm vào chuỗi giao dịch trong sổ cái mở.

 

Sổ cái phân tán (Distributed Ledger)

Một trong những mục tiêu quan trọng nhất của công nghệ blockchain là tạo ra một giải pháp phi tập trung. Khái niệm về một chuỗi các kết nối phi tập trung được gọi là “sổ cái phân tán” (Distributed Ledger).

Nói cách khác, mỗi cá nhân (nút) trong mạng sẽ nhận được một bản sao sổ kế toán. Điều đó có nghĩa là tôi sẽ giữ một bản sao sổ cái trong nút của tôi, Jenny, Justin và Mark cũng vậy.

Khi sổ kế toán được phân phối trên toàn mạng, mỗi người trong mạng giữ chuỗi các sự kiện (giao dịch) trong nút của họ, điều đó có nghĩa là sổ cái “mở” tập trung được thay thế bằng giải pháp phi tập trung .

Tại thời điểm này, mục tiêu để loại bỏ “bên thứ ba đáng tin cậy” đã được đề cập trước đó đã được thực hiện.

Tuy nhiên, bằng cách làm như vậy nảy sinh một vấn đề, bởi vì bây giờ chúng tôi có 4 bản sao khác nhau của sổ cái trong mạng lưới giao dịch. Điều quan trọng là mỗi cá nhân (người tham gia) trong mạng đều sở hữu một phiên bản được đồng bộ hóa riêng, vì vậy mỗi nút phải chứa cùng một bản sao sổ cái.

Để giải quyết vấn đề này, chúng ta hãy tiếp tục xem xét một nguyên tắc khác của công nghệ blockchain.

 

  1. Đào mỏ (Mining):

Bây giờ bạn biết rằng sổ cái phân tán là một mạng mở mà mọi người có thể truy cập. Bản sao sổ kế toán được phân tán trên tất cả các nút (người tham gia) trong mạng của sổ kế toán.

Nhưng các giao dịch mới được xác thực như thế nào trong mạng?

Ví dụ, chúng ta hãy giả sử rằng tôi muốn chuyển $10 đến Jenny. Khi tôi thực hiện giao dịch này, tôi sẽ tự động chia sẻ và công khai giao dịch “dự định” của tôi với mạng.

Do đó, mọi người tham gia trong mạng sẽ được thông báo về giao dịch dự định này và sẽ thấy rằng tôi muốn chuyển $10 sang Jenny. Do giao dịch của tôi chưa được xác thực nên nó chưa được ghi trong sổ kế toán.

Để có được một giao dịch được xác thực, để nó được ghi lại trong sổ kế toán, một nguyên tắc cần thiết khác là:khai thác mỏ” (mining).  Nguyên tắc khai thác mỏ có nghĩa là giải toán.

Các thợ mỏ (người khai thác), ví dụ, Bitcoins, là các nút đặc biệt. Nút của mỗi thợ mỏ có thể giữ sổ cái (vì nó là công khai).

Ví dụ, hãy tưởng tượng rằng cả Mark và Justin đều là thợ mỏ trong sổ cái cụ thể này. Thợ mỏ thực hiện một nhiệm vụ rất quan trọng. Tất cả các thợ mỏ trong một sổ cái cạnh tranh với nhau, vì vậy Mark và Justin sẽ là các thợ mỏ đối thủ ở đây.

Mark và Justin (các thợ mỏ) sẽ cạnh tranh để trở thành người đầu tiên thực hiện giao dịch chưa có hiệu lực của tôi với Jenny, xác thực giao dịch và sau đó thêm nó vào chuỗi sổ cái.

Người thợ mỏ thực hiện điều này nhanh nhất (đầu tiên) sẽ nhận được một phần thưởng tài chính. Trong trường hợp này, vì đây là một ví dụ về thợ mỏ Bitcoin, phần thưởng tài chính sẽ là Bitcoin.

Khái niệm về cách bitcoin được tạo ra là vô cùng phức tạp và vượt ra ngoài phạm vi của bài viết này. Tất cả những gì bạn cần biết là, rất đơn giản, phần thưởng tài chính của bitcoin được tạo ra thông qua quá trình tính toán xác nhận/khớp lệnh giao dịch, chứ Jenny hoặc Bill không trả bitcoin trực tiếp cho các thợ mỏ.

Để biết thêm thông tin về việc tạo bitcoin, truy cập trang web của AnythingCrypto.

Vì vậy, các quy tắc để Mark và Justin có thể đánh bại các đối thủ và nhận được một phần thưởng tài chính là gì?

Người thợ mỏ phải làm 2 việc để thực hiện các giao dịch đang chờ thực hiệnđưa nó vào sổ cái.

 

Bước # 1 – Xác thực giao dịch mới

Việc xác thực giao dịch mới là tương đối đơn giản vì thông tin trong sổ kế toán có thể truy cập công khai, vì vậy người khai thác có thể tính toán ngay lập tức liệu tôi có đủ tiền để hoàn thành việc chuyển sang Jenny hay không.

 

Bước # 2 – Tìm một “Key” đặc biệt

Để khóa giao dịch mới trong chuỗi các sổ cái, người thợ mỏ phải tìm thấy một key đặc biệt mà có khả năng thực hiện quá trình này. Tuy nhiên, Key này là ngẫu nhiên.

Do đó, Mark và Justin cần sử dụng nguồn lực tính toán để tìm kiếm khóa ngẫu nhiên (random key), và việc này cần có thời gian. Những thợ mỏ sẽ sử dụng khả năng toán học của máy tính để liên tục đoán các key mới cho đến khi máy tính tìm thấy khóa (key) đầu tiên khớp với key ngẫu nhiên được đưa ra từ trước.

Trở lại với Mark, nếu anh có thể làm điều đó trước, anh ta sẽ nhận được phần thưởng tài chính.

Và khi quá trình này hoàn tất, Mark phải đồng bộ hóa sổ cái phân tán trên toàn bộ network.

  1. Làm cách nào “những sổ cái” được đồng bộ trên toàn mạng lưới?

Hãy tiếp tục với ví dụ mà chúng ta đã nói trong phần trước.

Câu hỏi bạn bây giờ có thể là:

Làm thế nào mỗi nút có thể được đồng bộ hóa để có cùng một bản ghi giao dịch?

Đây là một nguyên tắc cơ bản của công nghệ blockchain, bởi vì điều này sẽ giải quyết vấn đề làm thế nào để có cùng một bản sao của sổ cái trên mỗi nút trong mạng.

Mark đã có thể giải quyết các bài toán đầu tiên và do đó có thể thêm các giao dịch vào chuỗi trong sổ cái của mình. Bây giờ, Mark phải thông báo giải pháp mà anh tìm thấy cho toàn bộ mạng.

Điều đó có nghĩa là anh ta nói với Justin, Jenny và tôi rằng anh ấy đã giải quyết bài toán và xác thực giao dịch (giao dịch mà tôi muốn gửi cho Jenny).

Khi Mark cập nhật cho chúng tôi về điều đó, anh ấy cũng sẽ cung cấp khóa (key) cho phép những người còn lại tham gia mạng này thực hiện giao dịch và thêm nó vào sổ cái của chính chúng tôi.

Vì vậy, Justin (thợ mỏ) sẽ thêm giao dịch này vào sổ kế toán của mình, bởi vì việc cố gắng giải quyết giao dịch này là vô ích vì nó đã được Mark giải quyết và đã nhận được phần thưởng tài chính. Justin sẽ tìm kiếm một giao dịch khác để thực hiện (và giải quyết) để được nhận phần thưởng tài chính.

Kết quả là, giao dịch cũng sẽ được thêm vào chuỗi các giao dịch trong Jenny và sổ kế toán của tôi. Jenny sẽ nhận được $10 mà ban đầu tôi đề nghị chuyển cho cô ấy trong mạng, bởi vì tất cả mọi người trong mạng đã đồng ý rằng giao dịch này là hợp lệ.

Lúc này, tất cả các sổ cái trong mạng được cập nhật và chứa cùng một chuỗi giao dịch.

 

 

“Khối” trong “Chuỗi”

Vì bây giờ bạn đã hiểu rõ hơn về khái niệm cơ bản của blockchain, đã đến lúc phải đào sâu hơn một chút để hiểu rõ hơn về “các khối” trong “chuỗi”.

Mỗi khối trong chuỗi chứa một số dữ liệu cụ thể.

  1. Dữ liệu:

Loại dữ liệu được lưu trữ trong một khối phụ thuộc vào loại blockchain. Ví dụ, một khối trong khối bitcoin lưu trữ thông tin như số bitcoin trong khối, người đã gửi bitcoin và người đã nhận được bitcoin.

Nếu blockchain thuộc về tiền điện tử khác như Ethereum, khối sẽ chứa thông tin về Ethereum thay vì Bitcoin.

  1. Hash – Hàm băm: (Một giá trị hash (hash value) là một chuỗi ký tự gồm số và chữ đi kèm với nhau)

Một hash có thể giống như thế này:

82e35a613ceba37e9652366234c5dd412ea586147f1e4a41ccde16149238187e3dbf9

Hash luôn luôn duy nhất – nó chứa một chuỗi các chữ cái và số ngẫu nhiên. Về cơ bản, nó chứa thông tin về nội dung nào đó được lưu trữ trong khối.

Khi một khối được tạo, sẽ có hash duy nhất thuộc về khối đó được tính toán sau đó. Khi một cái gì đó trong khối thay đổi – ví dụ, nếu số bitcoin giảm xuống 2 – hash cũng sẽ thay đổi.

Điều đó có nghĩa là khi hash thay đổi, nó không còn là một phần của cùng một khối. Vì vậy, một khối mới được tạo ra.

  1. Hash của khối trước:

Mỗi khối mới được tạo cũng chứa chuỗi hash duy nhất của khối trước đó. Bằng cách đó, tất cả các khối được kết nối với nhau.

Như bạn có thể thấy trong ví dụ này, mỗi khối được kết nối với khối trước đó bằng cách chỉ ra hàm hash của khối đó.

Khối đầu tiên không chứa hàm hash trước đó, đơn giản vì không có khối trước đó. Tên của khối đầu tiên trong chuỗi cũng được gọi là “Genesis block”.

  1. Tính bảo mật của Blockchain

Nếu ai đó cố gắng can thiệp vào một khối đã tồn tại hoặc thay đổi thứ gì đó trong khối, thì hash sẽ thay đổi. Điều đó có nghĩa là tất cả các khối sau sẽ trở thành không hợp lệ vì chúng chứa một hàm hash khác với hash mới được tạo ra, bởi vì một thay đổi đã được thực hiện.

Để giải quyết vấn đề của các khối khác trở thành không hợp lệ, tất cả các khối hash khác phải được tính toán lại.

Để đối phó với lỗ hổng đó, có một mẩu dữ liệu liên quan được gọi là “bằng chứng về công việc” (proof of work), về cơ bản làm chậm việc tạo ra các khối mới. Điều này khiến việc các thợ mỏ tạo ra các khối mới khó khăn hơn, dó đó kiểm soát được thời gian cần thiết để giải quyết một phép tính và tạo ra một khối mới chỉ được thực hiện mỗi 10 phút.

Điều đó có nghĩa là nếu bạn can thiệp hoặc thay đổi một khối trong chuỗi, bạn sẽ cần phải tính toán lại tất cả các khối sau trong chuỗi, 1 trên 10 phút – quá tốn thời gian và tốn kém.

Một lớp bảo mật khác là Mạng ngang hàng (P2P)”(Peer-to-peer (P2P) network). Sự tồn tại của một mạng P2P đảm bảo rằng blockchain được phân phối trên một mạng lớn, thay vì được lưu trữ trong một thực thể duy nhất.

Đây là một mạng công khai và mọi người đều có thể tham gia. Khi bạn nhập một mạng, bạn sẽ nhận được một bản sao của blockchain.

Khi một khối mới được tạo ra (xem hình ảnh dưới đây), nó sẽ được gửi đến nút của tất cả những người tham gia trong mạng.

Sau đó, mỗi nút của mỗi người tham gia trong mạng sẽ kiểm tra khối mới và xác định xem liệu đó có là một khối hợp lệ. Nếu hợp lệ, mỗi nút sẽ thêm khối mới vào blockchain của chính nó.

Nếu tất cả các nút khác nhau của những người tham gia trong mạng chứa cùng một blockchain, nó có nghĩa là có một thỏa thuận chung rằng đây là blockchain chính thức, và các khối không hợp lệ sẽ bị từ chối không được thêm vào blockchain.

Khi nói đến bảo mật, nếu bạn muốn giả mạo blockchain, bạn sẽ cần phải thay đổi tất cả các khối trong blockchain, tính toán lại tất cả các hash, thay đổi bằng chứng về công việc, và trên hết, bạn cần kiểm soát hơn 50% mạng P2P.

Nếu không, sửa đổi của bạn trên blockchain sẽ không được chấp nhận bởi tất cả những người khác trong mạng.

Rõ ràng, điều này sẽ là dường như không thể thực hiện, đồng nghĩa với tính bảo mật của blockchains là cực kỳ tốt.

 

Tóm tắt sơ lược về công nghệ Blockchain

Blockchain và Bitcoin là hai thứ khác nhau. Ngoài ra, chúng ta cũng biết thêm rằng công nghệ blockchain dựa trên một vài nguyên tắc cơ bản:

  1. Sổ cái được phân phối/phân tán là một mạng mở công khai cho tất cả mọi người.
  2. Mọi người tham gia trong mạng đều có thể xác thực giao dịch.
  3. Sổ cái được phân phối và tồn tại trong nhiều nút khác nhau trên mạng (điều này loại bỏ sự tham gia của một bên thứ ba đáng tin cậy).
  4. Khái niệm về thợ mỏ và vai trò của thợ mỏ là để xác thực các giao dịch trong sổ kế toán bằng cách giải các bài toán.

Thợ mỏ là các nút đặc biệt trong mạng. Nhiệm vụ của thợ mỏ là để xác nhận các giao dịch “dự định”, giải quyết các câu đố/bài toán và xuất bản/chia sẻ nó với mạng để mọi người có thể thêm giao dịch mới vào chuỗi trong sổ kế toán của họ.

Mỗi khối trong một blockchain có chứa 3 loại dữ liệu:

  1. Dữ liệu
  2. Hash
  3. Hash của khối trước

Tất nhiên, những gì được lưu trữ trong mỗi khối phụ thuộc vào blockchain, nhưng một ví dụ đơn giản sẽ là trong blockchain Bitcoin, mỗi khối lưu trữ thông tin về bitcoin.

Chúng ta cũng biết rằng mỗi khối chứa một chuỗi ký tự ngẫu nhiên và số duy nhất được gọi là “hash”. Hash giữ thông tin về khối, vì vậy khi một phần thông tin trong một khối thay đổi, thì hàm hash cũng vậy.

Để kết nối các khối với nhau, mỗi khối giữ chuỗi hash của khối trước đó. Chỉ khối đầu tiên – “genesis” của chuỗi, không chứa hàm hash của khối trước đó, đơn giản chỉ vì nó là khối đầu tiên trong chuỗi.

Tóm lại, blockchain cực kỳ chi tiết và phức tạp, nhưng hy vọng rằng bài viết này có thể giúp bạn trả lời được nhiều câu hỏi của mình về Blockchain.

Nguồn: Pixel Privacy,

 

10 yếu tố công nghệ sẽ định hình lại phần mềm quản lý chuỗi cung ứng

10 yếu tố công nghệ sẽ định hình lại phần mềm quản lý chuỗi cung ứng

Phần mềm quản lý chuỗi cung ứng (QLCCU) hiện nay không thể bắt kịp với sự thay đổi đang thách thức hầu hết các mô hình kinh doanh. Sự kết hợp của 10 công nghệ chính có thể giải quyết vấn đề này và tạo nên những khả năng cấp tiến cho doanh nghiệp trong tương lai.

Thị trường vận động không ngừng thách thức nhiều mô hình hoạt động kinh doanh, và phần mềm quản lý chuỗi cung ứng đã dần không bắt kịp các thay đổi này. Nếu ta có thể kết hợp được 10 công nghệ được liệt kê bên dưới, bên cạnh giải quyết được những vấn đề hiện nay, ta còn có thể nâng cao được năng lực cần thiết trong tương lai cho doanh nghiệp mình.

Phần mềm QLCCU đang cần sự thay đổi. Các giải pháp QLCCU hiện tại được xây dựng dựa trên nền cấu trúc được hình thành vào những năm 1990. Những giải pháp được dùng cho lập kế hoạch và quản lý tài sản, quản lý hàng trong kho cũng như nhân lực nhằm đưa hàng hóa và dịch vụ đến với người tiêu dùng đã và đang được nâng cấp nhưng cấu trúc nền vẫn không thay đổi. Do đó, các phần mềm này đang bị giới hạn trong việc nhanh chóng xác định sự thay đổi lớn và liên tục đến từ sự gia tăng kì vọng của người tiêu dùng và những sự cạnh tranh mới. Thực tế, phần mềm QLCCU của doanh nghiệp tiếp nhận các ý tưởng và kĩ thuật mới chậm hơn sự thay đổi của công nghệ, đặc biệt là các công nghệ dành cho người tiêu dùng. Trong nhiều trường hợp, phầm mềm QLCCU góp phần tạo sức ì cho các doanh nghiệp trong việc đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng một cách hiệu quả.

Cùng lúc đó, các doanh nghiệp trong tất cả các ngành nghề đang cố gắng tìm cách sử dụng đòn bẩy từ sự bùng nổ của công nghệ để có thể biến họ thành “doanh nghiệp số”. Trong một doanh nghiệp số, tài sản hữu hình hoặc được tăng giá trị nhờ các công nghệ số và phần mềm hoặc bị thay thế bởi chính những công cụ này. Việc này giúp cho các tài sản ngày càng “thông minh”, tăng cường khả năng cũng như giúp chúng trao đổi trạng thái. Kết quả sẻ giúp các doanh nghiệp nâng cao hoạt động và cung cấp trải nghiệm đặc biệt mang tính cá nhân cho khách hàng.

Điều này không có nghĩa là các giải pháp mới chưa xuất hiện. Thị trường đầu tư mạo hiểm cho phần mềm QLCCU rất mạnh mẽ với hàng trăm triệu USD được dùng mỗi năm. Các nhà đầu tư lâu năm vẫn tiếp tục chi một khoảng tiền lớn hằng năm cho việc phát triển các giải pháp hiện có.

Tuy nhiên, mức độ đầu tư cao và đầy triển vọng vẫn chưa đủ để đảm bảo phần mềm QLCCU có thể đáp ứng được nhu cầu của các doanh nghiệp trong tương lai. Sự đầu tư cần tập trung vào việc tìm cách kết hợp các công nghệ một cách toàn diện nhằm xác định những thách thức cốt yếu đang ngăn cản doanh nghiệp chuyển đổi sang mô hình kinh doanh mới. Dựa trên ý tưởng này, bài viết đầu tiên xem xét tình hình hiện tại của phần mềm QLCCU, sau đó mô tả 10 yếu tố công nghệ chính sẽ hỗ trợ việc QLCCU tiên tiến trong tương lai. Phần mềm CCU cần kết hợp tất cả 10 yếu tố này để giúp doanh nghiệp chuyển đổi nhanh hơn sang mô hình kinh doanh mới.

Vấn đề là gì?

Mô hình cấu trúc cho phần mềm QLCCU hiện nay được xây dựng dựa trên việc phân tích vấn đề thông qua 2 phương diện: chức năng trong tổ chức và thời gian. Mô hình cấu trúc này đi theo con đường truyền thống mà các tổ chức phức hợp phát triển. Việc đồng bộ hóa giữa kế hoạch dài hạn và thực thi ngắn hạn luôn là một thách thức, cũng tương tự như việc đồng bộ hóa các hoạt động giữa khách hàng và nhà cung cấp. Và việc đồng bộ hóa cả hai sẽ khó khăn hơn nhiều lần; giải quyết được vấn đề này chính là mục tiêu lớn nhất của QLCCU. Mục tiêu đồng bộ hóa này được thể hiện trong hình 1, thường được gọi trong những năm 1990 bằng tên “phễu kế hoạch-thực thi”.

Cơ chế này đã dẫn đến niềm tin được giữ trong một thời gian dài rằng những phương pháp tại các thời điểm khác nhau dành cho các chức năng khác nhau cần những kiến trúc khác nhau. Việc này đã tăng cường ranh giới giữa các tổ chức trong chuỗi cung ứng và gây cản trở những cải tiến đột phá. Cùng lúc đó, các công ty cần sự đồng bộ qua các điểm thời gian và các bộ phận để có thể cạnh tranh một cách hiệu quả. Ví dụ, việc quyết định nơi nào lấy hàng để đáp ứng một đơn hàng trực tuyến cần sự đồng bộ các bộ phận từ quản lý đơn hàng, quản lý nhà kho, vận chuyển hàng, và trong vài trường hợp, hoạt động của cửa hàng. Việc này còn yêu cầu sự đồng bộ với các bộ phận (công ty) cung ứng trong việc hoạch định nhu cầu, lập kế hoạch sản xuất, sử dụng hàng tồn kho để đảm bảo hàng sẽ được trữ tại vị trí tối ưu khi có đơn đặt hàng. Các công ty luôn cố gắng đạt được sự đồng bộ này bằng cách đầu tư hàng triệu đô để xây dựng mã nối các cấu trúc riêng biệt. 30-50% ngân sách cho việc chuyển hóa chuỗi cung ứng dành cho việc kết nối, và chính việc kết nối này cũng thường xuyên là nguồn gốc của việc chi phí bị vượt quá trong các dự án.

Việc chúng ta bị rơi vào trình trạng này là hết sức bình thường. Peter Senge của viện khoa học kĩ thuật Massachusetts (MIT) đã từng mô tả cơ chế này trong nghiên cứu về hệ thống của ông vào những năm 1990:

“Từ bé chúng ta đã được dạy chia nhỏ vấn đề, chia nhỏ thế giới. Việc này làm cho các vấn đề phức tạp có thể xử lý, nhưng chúng ta phải trả một cái giá tiềm ẩn lớn. Chúng ta không còn có thể nhìn thấy sự ảnh hưởng từ các hành động của bản thân; chúng ta đánh mất đi sự liên kết nội tại của chính chúng ta với cái toàn thể. Khi chúng ta cố gắng “nhìn vào bức tranh toàn cảnh”, chúng ta lại cố gắng gắn kết, sắp xếp, tổ chức lại những mảnh ghép trong trí óc, một công việc vô ích… Sau một thời gian, chúng ta bỏ cuộc trong việc cố gắng nhìn mọi thứ cùng lúc.”

Kết quả của 40 năm phát triển phần mềm QLCCU, bao gồm hơn 20 năm phát triển phần mềm thương mại chính là việc vùng chứa phần mềm QLCCU trong các công ty là một mớ các giải pháp được sắp xếp như một bảng chơi bingo. Điều này được mô tả trong hình 2, nơi mà mỗi hình trong ô thể hiện một giải pháp khác nhau với một cấu trúc khác nhau. Hệ quả của tình trạng này đã lan rộng ra toàn bộ các phương diện của phần mềm QLCUU. Những hệ thống rất khó để thay đổi, khó thích ứng với sự thay đổi của các quy trình kinh doanh, chỉ học thông qua các tác động thực hiện thủ công, và rất khó để đồng bộ hóa đa bộ phận cùng với mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp.

Tương lai của phần mềm QLCCU: 10 yếu tố chính

Trong khi đó, trong vòng 10 năm trở lại đây, thế giới đã và đang chứng kiến một cuộc cách mạng về công nghệ. Những công nghệ đã tồn tại nhiều năm và đi theo đường cong tăng trưởng một cách chậm chạp đột ngột cùng lúc tăng tốc phát triển. Ví dụ như robot, trí tuệ nhân tạo, học máy (machine learning), in 3D, và trí tuệ số hiện nay được tìm thấy hầu hết trong các thiết bị cơ điện trước đây: nhiệt kế, xe máy, thiết bị điều khiển công nghiệp, đồ chơi, và sản phẩm tiêu dùng. Trí tuệ số là gốc của Internet vật thể (IoT), nơi mà các vật dụng hữu hình được ngập trong Internet, và trí tuệ dựa trên bộ vi xử lý có thể giao tiếp thông qua Internet.

Như mô tả trong hình 3, đã có một sự tách biệt lớn diễn ra giữa tốc độ phát triển của phần mềm doanh nghiệp và một công nghệ riêng lẻ; việc này hoàn toàn đúng với các công nghệ được phát triển cho người tiêu dùng, từ điện thoại thông minh, nhà ở “thông minh” đến các sản phẩm tiêu dùng như xe hơi. Ngược lại, vì nhiều lí do liên quan đến cấu trúc, phần mềm doanh nghiệp, ví dụ như các phần mềm được sử dụng cho lập kế hoạch sản xuất, quản lý kho vận, chỉ phát triển theo hàm tuyến tính và vẫn chưa thể phát huy một cách nhanh chóng như công nghệ riêng lẻ. Việc “bẻ cong đường phát triển” cần áp dụng một cấu trúc mới với những yếu tố mới.

Những yếu tố của một mô hình kinh doanh và cấu trúc công nghệ mới dành cho phần mềm QLCUU đã trỗi dậy trong vòng 5 năm qua. Cấu trúc mới này (được mô tả trong hình 4 và tổng hợp trong hình 5), dựa trên những khái niệm doanh nghiệp và công nghệ được đánh số và mô tả bên dưới. Cấu trúc này và những yếu tố của nó hứa hẹn sẽ giải quyết được những vấn đề đã được đề cập trước đó.

  1. Sự hội tụ

Hình thức kinh doanh và cấu trúc công nghệ mới cho các giải pháp QLCCU được xây dựng dựa trên sự hội tụ của quy trình kinh doanh và thời gian. Điều này có nghĩa là gì? Ta có thể lấy một ví dụ minh họa, khi Steve Jobs giới thiệu về chiếc iPhone đầu tiên năm 2007, ông bắt đầu bằng việc giới thiệu 3 thiết bị: 1) máy nghe nhạc; 2) thiết bị kết nối Internet; 3) điện thoại. (Ông còn có thể thêm vào thiết bị thứ tư: máy chụp hình). Và ông nói, 3 thiết bị này đã được tích hợp trong một thiết bị dựa vào một cấu trúc duy nhất. Đây được biết đến như sự hội tụ, và nó lập tức làm gián đoạn thị trường đơn lẻ dành cho máy nghe nhạc, thiết bị kết nối Internet, điện thoại, và máy chụp hình. Tương tự, cấu trúc kinh doanh của tương lai sẽ tiếp tục tăng cường sự hội tụ của các quy trình và sự biến mất của ranh giới thời gian giữa lập kế hoạch và thực thi.

Những khái niệm này không xa vời; những công ty hàng đầu như Protect & Gamble đã chia nhỏ cầu, cung, kế hoạch bán và vận hành (S&OP), và quy trình quản lý kênh thành những quy trình đơn lẻ, được quản lý bởi những nhóm đơn và hỗ trợ bởi một công nghệ riêng. Việc này đã được báo cáo trên trang web Tầm nhìn Logistics năm 2015. Những ngày mà công ty cần phải mua giải pháp công nghệ riêng lẻ cho cầu, cung, S&OP, và quản lý kênh được đánh số. Tình hình tương tự cũng diễn ra đối với những miền chức năng khác được mô tả trong hình 2.

  1. Sinh đôi số

Phần mềm QLCUU đầu tiên hoạt động dựa trên việc tạo ra một mô hình dữ liệu máy tính của thế giới thực. Logic và thuật toán chạy dựa trên mô hình để đưa ra câu trả lời và các quyết định. Những câu trả lời này sẽ được thực hiện trong thế giới thực. Chất lượng của những câu trả lời hay các quyết định được tạo ra bởi phần mềm phụ thuộc phần lớn vào chất lượng của mô hình dữ liệu, và khả năng phản ánh thực tế của mô hình tại thời điểm những câu trả lời được hình thành. Việc này đang diễn ra trong các trường hợp cần đưa ra quyết định trong QLCCU – sản xuất, phân phối, vận chuyển và quản lý kho.

Trong thế giới số hiện nay, người ta thường xuyên nhắc đến những mô hình dữ liệu này như “Sinh đôi số”. Nói cách khác, mô hình dữ liệu cần phải là “anh em sinh đôi cùng trứng” với thế giới thực trong mọi thời điểm. Việc này chỉ có thể diễn ra khi mô hình thực sự mạnh – nghĩa là, đủ linh hoạt để thể hiện tất cả những thực thể và trường hợp trong thế giới thực – và có thể cập nhật tức thời. Điểm thứ hai chính là nguyên lý cốt lõi của một doanh nhiệp số và điều hứa hẹn chính mà Internet vật thể sẽ mang lại. Trước đây, có một độ trễ nhất định giữa những gì được mô tả trong mô hình và việc thực sự đang diễn ra, ví dụ như phần mềm thường chỉ đưa ra những giải pháp mang tính tối ưu cục bộ. Nhờ việc tài nguyên của chuỗi cung ứng – vật chất và nhân lực – hiện nay đã có thể chuyển giao tình trạng một cách tức thời, mô hình máy tính sẽ ngày càng có thể đồng bộ với thế giới thực, và kích hoạt mô hình sinh đôi số.

Điện toán trong (In-memory Computing, IMC) là một trong những công nghệ cốt lõi cho sinh đôi số. IMC giúp cho mô hình dữ liệu được lưu trữ trong bộ nhớ trong, thay vì trên ổ cứng ngoài. Việc này tạo tốc độ xử lý cần thiết cho sinh đôi số. Mặc dù IMC đã được áp dụng cho các phần mềm QLCCU vài thập kỉ trước, những bước tiến gần đây mới có thể tạo cơ hội cho IMC giải quyết được những vấn đề lớn hơn, bao gồm việc xử lý một lượng lớn tín hiệu số từ Internet vật thể.

  1. Mô hình dữ liệu có thể mở rộng

Phầm mềm QLCCU trong tương lai sẽ bao gồm các mô hình dữ liệu có mục đích tổng bộ với khả năng mở rộng ra các miền chức năng khác nhau, ví dụ một mô hình dữ liệu có thể cùng lúc đại diện cho sản xuất, phân phối và quản lý kho. Tại thời điểm trỗi dậy của gói phần mềm QLCCU những năm 1990, các nhà tiên phong đã đặt đây là mục tiêu chính. Vì một số lí do về mặt công nghệ và kinh doanh, mục tiêu này đã không đạt được. Thay vào đó, phần mềm QLCUU đã phát triển theo hướng xây dựng mô hình dữ liệu có chủ đích nhất định, mang tính sở hữu riêng cho từng cá thể. Một mô hình dữ liệu cùng với bộ phần mềm mới được phát triển cho từng vấn đề mới trong QLCUU. Việc này đã đóng góp một phần vào vấn đề “bảng bingo” được mô tả trong hình 2.

Phần mềm QLCCU yêu cầu những mô hình dữ liệu mạnh có thể đại diện cho hàng loạt các mối quan hệ và các trường hợp sử dụng diễn ra trong khắp các môi trường khác nhau. Độ chính xác ngày càng trở nên quan trọng khi chuỗi cung ứng ngày càng phải giao hàng bất cứ khi nào, ở đâu theo những phương thức đa dạng mà khách hàng mong muốn. Sự kết hợp giữa sinh đôi số và mô hình dữ liệu có thể mở rộng sẽ cung cấp phương tiện đảm bảo cho việc giao hàng ngày càng chính xác nhờ vào việc đồng bộ hóa các hoạt động, ví dụ như giữa bán lẻ, phân phối, và sản xuất.

  1. Trí tuệ nhân tạo (AI)

Phần mềm QLCCU tương lai sẽ mang tính chất “tự học”. Nghĩa là phầm mềm sẽ tự thích ứng và đưa ra quyết định, không cần sự tác động từ con người. Trí tuệ nhân tạo (AI), đặc biệt là học máy, phần mềm có thể học từ dữ liệu thay vì hoàn toàn chạy bằng quy luật được xây dựng bởi con người, sẽ làm được điều này. AI tạo điều kiện cho phần mềm có thể tiếp nhận khối lượng lớn hơn trong việc ra quyết định liên quan đến QLCCU. Điều kiện này không nổi bật như trong các ngành như robot và xe tự động, nơi mà các hành động được tự điều chỉnh dựa trên khả năng tự học của phần mềm. Trong phần mềm QLCCU, AI sẽ chỉ bắt đầu từ việc đưa ra kiến nghị cho con người và sau đó sẽ được dùng để tự động ra quyết định.

Khả năng học hiện tại của phần mềm QLCCU đang dừng lại ở việc thử-và-sai được thực hiện thủ công. Khi vấn đề mới xảy ra mà phần mềm hiện tại không thể xử lý, phần mềm được cấu hình lại hay chính mã xây dựng sẽ được chỉnh sửa lại để phù hợp với tình huống mới. Cách nào cũng rất tốn kém về mặt thời gian và tiền bạc. Các cách giải quyết này cũng không hiệu quả khi chuỗi cung ứng và các vấn đề liên quan đến chuỗi cung ứng luôn thay đổi. Học máy sẽ rất quan trọng đối với việc viết các thuật toán phản hồi ngày càng phức tạp, đóng một phần trong vòng lặp quản lý kiểm soát được mô tả trong hình 6. Ví dụ, là một phần của quy trình S&OP, phần mềm cung cấp các phương án có thể áp dụng khi cầu và cung không tương ứng. Những phương án này – ví dụ như thay đổi giá, làm việc quá giờ, hay tăng cung, v.v – được xác định một cách cứng nhắc. Ngược lại, học máy đảm bảo sẽ học và đưa ra nhiều phương án phản hồi, bao gồm cả những phương án đa biến phức tạp.

Cấu trúc truyền trực tuyến

Cấu trúc truyền trực tuyến phát triển trong vòng 5 năm nhằm giúp giải quyết các vấn đề yêu cầu xử lý khối lượng lớn dữ liệu trong thời gian thực. Cấu trúc này sẽ ngày càng quan trọng đối với phần mềm QLCCU, bởi vì các phần mềm này cần đảm bảm kích hoạt sinh đôi số để hỗ trợ sự đồng bộ hóa chuỗi cung ứng qua thời gian và các bộ phận. Hai lĩnh vực chính trong cấu trúc truyền trực tuyến là: truyền trực tuyến và xử lý truyền trực tuyến. Truyền trực tuyến là khả năng có thể truyền tải một cách đáng tin cậy lượng lớn các thông điệp (ví dụ như tín hiệu số từ các thiết bị IoT). Xử lý truyền trực tuyến là khả năng nhận dữ liệu, áp dụng logic và thu được thông tin chi tiết từ nó. Sinh đôi số được nhắc đến phía trên là phần xử lý cho cấu trúc truyền trực tuyến.

  1. Logic kiểm soát kĩ thuật

Kiểm soát kĩ thuật là một phương thức kĩ thuật xử lý dữ liệu về một môi trường và sau đó áp dụng thuật toán để đưa những hành vi của môi trường này đạt được trạng thái mong muốn. Ví dụ, công việc chế tạo liên tục xử lý thông tin về trạng thái của máy móc, vật liệu đầu vào và tiến độ cùng với đơn hàng còn tồn đọng; sau đó chạy thuật toán điều chỉnh việc cho ra sản phẩm nhằm đạt được mục tiêu sản xuất. Đây được xem là vòng lặp kiểm soát. Những khái niệm chính được mô tả trong hình 6, với một vòng lặp “kiểm soát” được thực hiện liên tục, và một vòng lặp “học hỏi” điểu chỉnh các thuật toán kiểm soát dựa trên những kết quả từ các phiên kết thúc của vòng lặp kiểm soát.

Khái niệm này được dùng trong tất cả các bộ phận của QLCCU. S&OP, ví dụ, có một hàm mục tiêu: mục tiêu về tài chính; tài nguyên và con người phải được điều chỉnh để đạt được hàm mục tiêu này. Khi có một sự chênh lệch (trong kiểm soát kĩ thuật được nhắc đến là “lỗi”) giữa hàm mục tiêu và những gì thực sự đang diễn ra, cần thực hiện sửa lỗi sai. Hành động sửa lỗi sai này có thể là giảm giá, tăng hàng trong kho, hay tăng thời gian làm việc quá giờ. Trong tương lai, Những hành động này sẽ được trợ giúp bởi AI. Dù ở trong cung ứng, chế tạo, phân phối, quản lý kho, hay quản lý đơn hàng, hầu hết những hoạt động liên quan đến QLCCU đều tập trung vào việc làm giảm “lỗi” giữa mục tiêu và điều thực sự diễn ra trong thế giới thực.

  1. Quy trình làm việc và phân tích

Quy trình làm việc xác định những bước mà một người phải làm theo để hoàn thành một hoạt động, phần việc hay một đơn vị công việc nhất định. Khi nói đến phần mềm, việc này có nghĩ là một chuỗi có trình tự những màn hình, những cái nhấp chuột, và những tương tác khác mà người dùng tiến hành. Trong nhiều trường hợp ngày nay, những bước này thường cứng nhắc và được xác định trước; việc thay đổi chúng yêu cầu thay đổi cấu hình hay thậm chí là mã phần mềm, công việc mất hàng tuần hoặc hàng tháng để hoàn thành.

Tương tự, bộ máy quy trình làm việc linh hoạt xuyên suốt các miền chức năng của QLCCU rất quan trọng đối với việc đạt được sự hội tụ trong phần mềm QLCCU. Việc này sẽ hỗ trợ việc sử dụng và tương tác với phần mềm trong các trường hợp khác nhau, không chỉ trong một miền chức năng mà trong các miền chức năng khác.

Việc liên kết với mỗi quy trình làm việc là sự logic và phân tích. Những phân tích này giúp dự đoán được những vấn đề như cầu, ảnh hưởng của một chương trình khuyến mại, hay ngày đến chính xác của một tàu cung ứng, v.v. Công việc phân tích nay được hướng vào việc đề xuất câu trả lời cho vấn đề có thể xảy ra. Ví dụ, dự đoán cầu rất quan trọng nhưng việc quan trọng không kém đó là biết cách giải quyết khi dự đoán không phù hợp với kế hoạch đặt ra. Đây là lúc phân tích theo quy tắc có thể giúp cung cấp thông tin nên làm gì khi thực tế không đúng với kế hoạch. AI cũng có thể giúp phân tích theo quy tắc bằng cách liên tực học từ những quyết định trong quá khứ.

Phân tích đã từng là một hoạt động ngoại tuyến, theo sau thực tế và xác định những gì đã xảy ra. Nói một cách khác, quy trình làm việc của việc phân tích tách biệt với quy trình hoạt động doanh nghiệp. Mặc dù việc này sẽ có ích cho việc nhìn lại sự việc đã qua nhưng nó sẽ giới hạn khả năng phân tích việc thực sự đang diễn ra ở hiện tại. Phân tích được xây dựng gắn liền với quy trình hoạt động doanh nghiệp sẽ cung cấp một tầm nhìn biến hóa và cập nhật theo từng phút so với tầm nhìn được cập nhật 1 tuần hay 1 tháng được cung cấp bởi mô hình ngoại tuyến.

  1. Điện toán biên

Điện toán đám mây, một dạng tập trung của điện toán thường được truy cập bằng Internet, nay đã được tăng cường bởi điện toán cục bộ, hay gọi là “điện toán biên” (từ này nói đến việc “nằm ngoài biên” của đám mây và gần hơn tới nơi mà máy “thông minh” đang được đặt). Điện toán biên hiện đang phát triển vượt bậc nhằm giải quyết các vấn đề liên quan đến việc xử lý dữ liệu từ hàng tỉ thiết bị có gắn vi xử lý được kết nối trong IoT.

Việc phát triển điện toán biên là cần thiết vì những lý do:

  1. Độ trễ của mạng là một vấn đề lớn. Độ trễ là thời gian chu kì cho việc gửi tín hiệu và nhận phản hồi. Thời gian chu kì cho việc gửi và nhận thông tin đến và từ đám mây là 100-200 mili giây. Với điện toán biên hay điện toán cục bộ, thời gian chu kì có thể chỉ 2-5 mili giây. Trong môi trường sản xuất và quản lý kho thời gian thực, đây là một yêu cầu thiết yếu. Hơn nữa, phương sai của thời gian phản hồi trong điện toán đám mây cao hơn nhiều so với điện toán cục bộ.
  2. Máy móc, hàng trong kho, và những “vật thể” được kết nối tạo ra hàng triệu tín hiệu số từng phút. Truyền tất cả tín hiệu là việc không thực tế. Do đó, điện toán biên đóng vai trò quan trọng trọng việc xác định thông tin nào cần được gửi lên đám mây và thông tin nào cần được lọc và loại bỏ. Ví dụ, một máy có thể báo cáo sức chứa của nó trên giây. Nếu thông tin được truyền tải không thay đổi hay chỉ thay đổi tương đối nhỏ, việc gửi những thông tin này lên đám mây là không cần thiết.
  3. Một số máy móc, hàng trong kho, và vật thể nhiều trường hợp phải hoạt động trong môi trường không có kết nối Internet hoặc kết nối Internet không ổn định. Ví dụ như tàu trên biển có thể không có kết nối Internet cho đến khi đến gần được tới cảng, trong khi đó, những nhà kho tại thị trường đang phát triển thường không có kết nối mạng đáng tin cậy. Trong những trường hợp như vậy, điện toán biên có thể được sử dụng để xử lý các tín hiệu cục bộ; những tín hiệu này sau đó sẽ được tải lên đám mây khi có kết nối.

Kết cấu công nghệ QLCCU sẽ là sự kết hợp giữa điện toán biên và điện toán đám mây. Ví dụ, trong hình 4, vùng “điện toán biên” sẽ được đặt ở nơi có các thiết bị và phần còn lại sẽ được chạy trên đám mây.

  1. “Ứng dụng” cho từng miền cụ thể

Trong khi một bộ khả năng cụ thể có thể được tích hợp trong một cơ sở hạ tầng độc lập với các miền chức năng (như được thể hiện trong hình 4), các miền như chế tạo, vận chuyển, và quản lý kho vẫn cần những trường hợp sử dụng cụ thể. Mặc dù vậy các công ty thường gặp các vấn đề không thể giải quyết bởi phần mềm sẵn có. Thay vì tập trung vào việc tái cấu hình hay tái lập trình tốn kém và mất thời gian, các công ty chuyển sang việc bắt lấy tín hiệu từ thế giới người tiêu dùng, nơi mà một “nền kinh tế các ứng dụng” được xây dựng trên những cơ sở hạ tầng điện thoại thông minh chung. Cách nghĩ này đã du nhập vào phần mềm doanh nghiệp khiến các doanh nghiệp xây dựng phần mềm dành cho người dùng cuối hay theo gói chuyển cơ sở hạ tầng của họ về với loại cấu trúc được nêu trên.

Ví dụ, nhiều công ty muốn “sở hữu” dữ liệu liên quan đến khách hàng của họ vì việc xây dựng các quyết định dựa trên dữ liệu này hiện là chiến trường cho cạnh tranh khác biệt. Những công ty này đang tạo nên môi trường nơi mà nhân viên nội bộ và nhà cung cấp phần mềm bên ngoài có thể phát triển phần mềm “tạo giá trị” có ích cho việc nghiên cứu và ra quyết định trên dữ liệu khách hàng. Một ví dụ là ứng dụng nhập kho nhìn vào dữ liệu khách hàng cho một loại hàng và hỗ trợ quyết định sử dụng hàng trong kho với thuật toán cung cấp cách nhìn mới dựa vào sự kết hợp giữa thời tiết, sự kiện địa phương, ngày lễ, và các cuộc trò chuyện trên mạng xã hội.

  1. Sự hợp xướng của các chiến lược kinh doanh

Một trong những thách thức trường kì trong QLCCU đó là làm sao để giữ sự đồng bộ liên tục giữa việc vận hành các bộ phận và mục tiêu kinh doanh chung của doanh nghiệp. Điều này bao gồm sự đồng bộ cả trong và ngoài từng bộ phận. Ví dụ, ở cấp doanh nghiệp, mục tiêu có thể là tăng trưởng cao và lợi nhuận biên thấp, tăng trưởng thấp và lợi nhuận biên cao, hoặc tất cả các điểm ở giữa 2 điểm trên. Bên cạnh đó, những mục tiêu này có thể thay đổi cho từng đơn vị kinh doanh, dây chuyền sản xuất, và thậm chí là cho từng sản phẩm và khách hàng. Các mục tiêu này cần được đưa vào trong chính sách cho vận hành, thứ sẽ được lập trình trên phần mềm QLCCU.

Cùng với thời gian, phần mềm QLCCU sẽ có một tầng hợp xướng xây dựng và duy trì tính liên kết của các chính sách điều hành trong từng bộ phận. Việc này sẽ được thực hiện thông qua 2 kết cấu: bảng điều khiển chiến lược, duy trì các mục tiêu kinh doanh và đưa chúng thành các chính sách vận hành; và tháp kiểm soát, cung cấp tầm nhìn đa bộ phận cho toàn bộ chuỗi cũng như cơ chế kiểm soát các quyết định của chuỗi. Trong vòng 5 năm, tháp kiểm soát đã nắm bắt được viễn tưởng của các chuyên gia QLCCU và nhà điều hành cấp cao, với nhiều công ty cố gắng tạo nên môi trường kiểm soát trong phòng, ngay cả trong phòng họp. Việc hình thành tháp kiểm soát hay phòng kiểm soát đã làm tăng thêm tính quan trọng của logic kiểm soát kĩ thuật mà chúng ta đã bàn luận trước đó.

Bắt đầu ngay từ bây giờ

Hiện tại chính là thời điểm để phát triển một bước tiến mới, thoát khỏi cách tiếp cận được sử dụng và ngăn cản các công ty đạt được sự đột phá trong suốt 20 năm qua. Nhiều tổ chức đã bắt đầu đi trên con đường này. Công nghệ dựa trên nguồn mở như Kafka (truyền trực tuyến), và Hadoop (phân tích) đã làm giảm rào cản gia nhập cho tất cả mọi người. Như nhiều người đã biết, các nhà sử dụng cuối, như Walmart, đã tận dụng được những công nghệ này để xây dựng giải pháp cho riêng họ, điều chỉnh cho phù hợp với các hoạt động và tạo dựng dựa trên các khái niệm được nhắc đến trong bài viết. Các công ty phần mềm cần phát triển giải pháp tương tự mà mọi người đều có thể dùng.

10 yếu tố được thảo luận trong bài viết, kết hợp cùng nhau, giúp chúng ta thấy được viễn cảnh của phần mềm QLCCU trong tương lai. Những yếu tố này đại diện cho bước tiến mới nhằm giải quyết vấn đề nan giải trong việc đồng bộ hóa bộ phận và thời gian và sẽ giúp ích cho các chuyên gia QLCCU cũng như nhà cung ứng phần mềm đang cố gắng xử lý những vấn đề này.

—–

Nguồn: Supply Chain Quarterly, 2018