Nghề Supply Chain – lương bổng và con đường như thế nào?

Một nghiên cứu của APICS Research thực hiện trên 2,600 chuyên gia về Supply chain đưa ra các con số thú vị về nghề supply chain.

Dưới đây là tóm tắt 5 điểm thú vị chính rút ra từ báo cáo.

Mức độ hài lòng nghề nghiệp: có tới 96% số chuyên gia trả lời rằng họ hài lòng với lĩnh vực mình đang làm; trong đó, điểm số trung bình là 8.4 trên thang điểm 10. Nhìn chung, các chuyên gia hài lòng về vị trí hiện tại của mình với số điểm trung bình là 7.4

Thâm niên nghề nghiệp là quan trọng: $39,818 là khoảng cách lương trung bình giữa một chuyên gia với 20 năm kinh nghiệm với một sinh viên vừa ra trường dưới 1 năm kinh nghiệm. Tuy nhiên, vì nhu cầu nhân lực trong lĩnh vực Supply chain cao nên mức lương của sinh viên mới ra trường chuyên ngành Supply chain sẽ nhỉnh hơn mức lương trung bình các ngành khác.

Khả năng lãnh đạo: Nghiên cứu cho thấy các vị trí giám sát trực tiếp và gián tiếp có phổ lương cao hơn khoảng 82% nhân viên bình thường.

Giá trị của bằng cấp: Việc sở hữu bằng cấp giúp tăng mức lương trung bình khoảng 19% cho người sở hữu 1 bằng cấp, 39% khi sở hữu 2 bằng cấp và thậm chí 50% cho những ai sở hữu 3 bằng cấp.

Khoảng cách giới tính: Kết quả nghiên cứu cho thấy có khoảng cách nhất định về mức lương trả cho nhân viên nam và nữ trong lĩnh vực supply chain. Nam giới được trả cao hơn 15.8% so với nữ giới.

 

—-

Nguồn: supplychain247

Đăng ký nhận chia sẻ bản đầy đủ của báo cáo

 

Bàn về định nghĩa hàng hoá và những quan niệm sai lầm về nó

Rõ ràng sự ra đời và bùng nổ của Ipod hay Iphone đã khiến cho chiếc điện thoại giá rẻ của Nokia phải “sống trong sợ hãi” trước sự bành trướng của các chiến lược đổi mới. Bài viết sâu sắc và sinh động dưới đây hi vọng sẽ giúp các doanh nghiệp nhìn nhận đúng về đinh nghĩa hàng hoá hiện đại và chiến lược sản xuất & phát triển hàng hoá. Read more

[Hot] Báo cáo lương ngành supply chain tại Việt Nam năm 2018

Dù không phải là lĩnh vực mới mẻ tuy nhiên số lượng nhân sự được đào tạo bài bản đang hoạt động trong lĩnh vực supply chain ở Việt Nam là khá khan hiếm. Và cũng vì lẽ đó, những thông tin khách quan về mức lương của ngành này là không dễ để xác định. Báo cáo lương trong bài viết được lấy từ headhunter First Alliance và có tính tham khảo tốt dành cho những ai đam tìm việc trong lĩnh vực supply chain. Read more

Hàng mùa Tết để ở đâu?

Đó có lẽ đang là câu hỏi mà các nhà sản xuất, nhà bán lẻ đang phải đi tìm câu trả lời ngay thời điểm này.

Tết đến là dịp mua sắm tưng bừng để chuẩn bị đón một năm mới đầy đủ, sung túc. Và để phục vụ cho nhu cầu tăng đột biến như vậy, không ít nhà sản xuất hàng hóa, đặc biệt là các công ty sản xuất thực phẩm, bánh kẹo, hàng tiêu dùng lớn như P&G, Unilever, Kinh Đô Modelez, Masan, Nestle, v.v và các nhà bán lẻ như Coop, Big C, Metro không ngừng tìm kiếm một kho hàng vừa là nơi lưu trữ và là trung tâm phân phối để phục vụ cho hàng mùa Tết.

Tìm được một trung tâm phân phối với vị trí, giá cả và yêu cầu chất lượng dịch vụ phù hợp luôn là các điều kiện tiên quyết của nhà sản xuất và nhà bán lẻ.

VSCI giới thiệu DC 6 của TBS Logistics, một trung tâm phân phối sẽ khánh thành và đi vào hoạt động chính thức tháng 10/2018.

Vị trí: đường cao tốc Tân Vạn, ngay tại ngã ba của tam giác kinh tế Bình Dương – Đồng Nai – Tp.Hồ Chí Minh.

Diện tích khai thác hơn 50,000m2

Trang thiết bị hiện đại, chuẩn vận hành quốc tế.

Liên hệ: 0907 314 433

Dưới đây là một số hình ảnh cập nhật 20/08/2018

Tái lập quy trình chuỗi cung ứng tại Việt Nam: 7 lưu ý cần thiết

Công ty bạn đang hoạt động tốt, tăng trưởng liên tục trong nhiều năm liền. Nhưng rồi một ngày bạn bỗng nhận ra các phòng ban không có liên kết mật thiết với nhau, tồn kho cao mà dịch vụ khách hàng vẫn thấp, con số dự báo không còn đáng tin cậy nữa, chi phí chuỗi cung ứng ngày càng leo thang, tăng trưởng chững lại và thị phần bắt đầu rớt xuống mặc dù đã đổ rất nhiều tiền vào quảng cáo và tiếp thị. Nếu bạn gặp những vấn đề như thế thì có nghĩa là bạn cần nghĩ đến việc tái thiết lại hệ thống quy trình vận hành chuỗi cung ứng (Supply Chain Process Reengineering – SCPR).  Vậy SCPR là gì? Nếu muốn triển khai phải bắt đầu ra sao? Cần chú ý gì trong quá trình triển khai?

 

SCPR là gì?

Cũng giống như khi còn nhỏ bạn đi một chiếc xe đạp nhỏ xinh, chiếc xe đó phù hợp với bạn, giúp bạn đạt được mục đích là đến trường mỗi ngày. Khi trưởng thành chiếc xe bé nhỏ ấy không còn phù hợp với bạn nữa, bạn cần có một chiếc xe đạp lớn hơn, hoặc một chiếc xe máy, để bạn có thể chở được bạn gái đi chơi, giúp bạn đi nhanh hơn, xa hơn … SCPR là quá trình đổi mới toàn diện và sâu sắc toàn bộ hệ thống quy trình vận hành chuỗi cung ứng. Nó bao gồm việc loại bỏ các quy trình cũ đã lỗi thời không còn phù hợp với thực tiễn và mục tiêu kinh doanh mới của công ty, và xây dựng một hệ thống quy trình mới phù hợp hơn, hiệu quả hơn.

Khái niệm về SCPR gắn liền với khái niệm tái thiết quy trình kinh doanh (Business Process Re-enginering – BPR), hay nói đúng hơn SCPR là một phần quan trọng của BPR.

BPR xuất hiện trong một bài viết của Michael Hammer, giáo sư Khoa Học Máy Tính của học viện MIT, được đăng trên tạp chí Harvard Business Review năm 1991. Quan điểm của Hammer là cách tư duy và tổ chức công việc của các doanh nghiệp thời đó đã không còn phù hợp với những đòi hỏi thực tiễn. Các cải tiến phần lớn dựa trên cách tư duy và làm việc cũ, do đó chưa đem lại những cải thiện rõ rệt. Tệ hơn nữa, nó còn tạo ra nhiều sự chồng chéo, phân mảnh công việc. Hammer cho rằng cần có một cuộc cách mạng để tạo ra sự thay đổi nền tảng lý thuyết tổ chức doanh nghiệp. Và từ đó BPR bắt đầu được nhắc tới.

Triển khai SCPR

Nhiều người ví von: cải tiến liên tục là các cuộc tiểu phẫu, còn tái thiết là một cuộc đại phẫu. Với tư tưởng đó, khi tái thiết hệ thống quy trình mới, người thiết kế không dựa trên các quy trình hiện tại mà phải nhìn vào tương lai, luôn tự hỏi: các cổ đông của công ty muốn gì? Khách hàng mong muốn gì? Nhân viên công ty muốn gì? Các thực hành tốt nhất hiện tại là gì? Chúng ta có thể làm gì với công nghệ mới?

 

Tóm lược quy trình triển khai SCPR bao gồm năm giai đoạn. Giai đoạn đầu là giai đoạn xác định phạm vi và mục tiêu của dự án. Giai đoạn tiếp theo là giai đoạn tìm hiểu “bức tranh” quy trình hiện tại. Đối tượng để tìm hiểu và đánh giá quy trình không những là nhân viên công ty, những người thực thi quy trình, mà còn là khách hàng, các nhà cung cấp, các đối tác khác trong chuỗi cung ứng. Sau khi đã nắm bắt được bối cảnh hiện tại, bước tiếp theo là bước thiết kế quy trình mới. Chú ý hệ thống quy trình mới là để phục vụ cho tương lai, vì thế cần phải nắm rõ yêu cầu tương lai của khách hàng và của thị trường. Người thiết kế quy trình cũng cần phải tham khảo các thực hành tốt nhất (best-practice), các quy trình tốt nhất hiện đang được áp dụng (best-in-class). Sau khi đã có hệ thống quy trình mới, tiếp theo là lên kế hoạc các công việc cần thực thi, trình tự thực hiện, thời gian và nhân lực yêu cầu. Cuối cùng là giai đoạn bắt tay vào triển khai.

 

Các giai đoạn triển khai SCPR

 

Triển khai SCPR không còn là một vấn đề mới mẻ đối với các doanh nghiệp nước ngoài, đặc biệt là các tập đoàn lớn. Không cần nhìn đâu xa, bản thân các công ty đa quốc gia có mặt ở Việt Nam như P&G, Unilever, BAT, Nestlé… đều đã nhiều lần tái thiết lại quy trình chuỗi cung ứng của mình. Việc tái thiết lại quy trình chuỗi cung ứng mang lại lợi ích rất lớn cho các doanh nghiệp. Theo thống kê thì tái thiết quy trình giúp tăng hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp từ 10 đến 15%. Xin lấy một ví dụ cụ thể ở Việt Nam. Khi mới thành lập doanh số của Unilever Việt Nam là khoảng 30 triệu đô la Mỹ, đến năm 2004 thì doanh số đã lên tới 250 triệu đô la Mỹ.  Mặc dù tăng trưởng liên tục nhiều năm liền, nhưng Unilever Việt Nam đã ý thức được việc cần phải thay đổi để duy trì tăng trưởng, nâng cao lợi nhuận, đáp ứng tốt hơn nhu cầu khách hàng, giữ vững vị trí cạnh tranh, và quan trọng hơn nữa, là xây dựng một văn hóa công ty làm việc chuyên nghiệp, theo quy trình, vì các mục tiêu kinh doanh chung, phục vụ người tiêu dùng và có trách nhiệm với cộng đồng. Năm 2005, công ty đã làm một cuộc đại phẫu, thay đổi hoàn toàn hệ thống quy trình chuỗi cung ứng, và các quy trình có liên kết mật thiết với quy trình chuỗi cung ứng, gồm quy trình hoạch định khuyến mại, tung và tái tung sản phẩm. Hệ thống quy trình mới của Unilever Việt Nam tại thời điểm triển khai được coi là “best-in-class”, và nó đã thực sự đưa Unilever Việt Nam lên một tầm cao mới. Sau một năm áp dụng, tồn kho của công ty giảm xuống 6 ngày, trong khi chỉ số dịch vụ khách hàng tăng thêm 10%. Công ty tiếp tục tăng trưởng với tốc độ trên 20% /năm, ước tính đến cuối năm 2009 doanh số của Unilever Việt Nam sẽ đạt trên 600 triệu đô la Mỹ. Không chỉ tăng trưởng, các ngành hàng chủ lực của Unilever như bột giặt, vệ sinh răng miệng, dầu gội luôn giữ vững vị thống lĩnh thị trường. Không dừng lại, sắp tới đây Unilever sẽ lại một lần nữa xem xét lại hệ thống quy trình của mình.

 

Các lưu ý trong quá trình triển khai

Biết là cần thiết, biết là có lợi, nhưng liệu các doanh nghiệp Việt Nam có làm được? Câu trả lời xin nhường lại cho bạn đọc. Chỉ xin đưa ra một gợi mở là, nếu bạn không có nhân lực để tự thực thi dự án, thì bạn có thể nhờ đến tư vấn. Các hàng tư vấn lớn như Boston Consulting Group, McKinsey & Company, Accenture, Delloite, KPMG… đều cung cấp dịch vụ tư vấn về SCPR. Hiện nay trong nước cũng đã bắt đầu xuất hiện các công ty tư vấn về quản trị chuỗi cung ứng. Tùy thuộc vào quy mô doanh nghiệp mà lựa chọn đối tác tư vấn cho phù hợp. Dù thuê ngoài hay tự triển khai bạn cũng cần lưu ý đến những điểm sau:

 

1.Khởi đầu từ nhận thức của lãnh đạo

SCPR là một dự án thay đổi toàn diện, xuyên suốt các phòng ban chức năng, xuyên suốt cả các mắt xích của chuỗi cung ứng nằm ngoài phạm vi doanh nghiệp. Muốn triển khai thành công, dự án phải nhận được sự ủng hộ của lãnh đạo cấp cao nhất.

2.Lấy khách hàng làm tâm điểm

Khách hàng chính là người mang đến lợi nhuận cho doanh nghiệp. Vì thế mọi nỗ lực cải tổ của doanh nghiệp cần lấy khách hàng, hay tốt hơn nữa là khách hàng cuối, là trung tâm tạo ra sự thay đổi. Cần nắm bắt yêu cầu của khách hàng ở thời điểm hiện tại cũng như xu hướng trong tương lai, từ đó xây dựng một hệ thống quy trình chuỗi cung ứng vừa đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu trước mắt, vừa có khả năng theo kịp những yêu cầu của khách hàng trong tương lai.

3.Đồng sức đồng lòng

Các quy trình chuỗi cung ứng không đứng riêng biệt mà luôn gắn kết với các quy trình của các bộ phận khác trong và ngoài doanh nghiệp, vì thế dự án SCPR không thể coi là dự án của riêng bộ phận chuỗi cung ứng, mà nó phải là dự án của cả doanh nghiệp. Các bộ phận tham gia dự án phải là các thành viên đến từ các phòng ban chủ chốt khác nhau như IT, nhân sự, bán hàng, marketing, tài chính… Ngoài ra, có thể có sự tham gia của các đối tác và sự hiện diện của các nhà tư vấn.

4.Thay đổi chính từ bạn, không phải do tư vấn mang lại

Có nhiều người cho rằng, bỏ tiền ra thuê tư vấn đồng nghĩa với việc có thể phó mặc mọi công việc cho tư vấn. Điều đó là không đúng, đặc biệt là đối với dự án SCPR. Hơn ai hết, bạn chính là người hiểu rõ doanh nghiệp và hiểu khách hàng của mình đang thực sự trông đợi điều gì, cũng như bản thân bạn đang mong muốn gì ở tương lai. Cái mà bạn thiếu chính là các hoạt náo viên, các chủ trò dẫn bạn qua các bước cần thiết để thực hiện dự án cải tổ – đó chính là nguyên nhân bạn cần đến các nhà tư vấn.

5.SCOR – là bộ cẩm năng giúp bạn tái thiết quy trình chuỗi cung ứng

SCOR sẽ là công cụ hỗ trợ đắc lực để bạn xây lên hệ thống quy trình mới. Cũng giống như xây một ngôi nhà, SCOR giúp bạn từ khâu vẽ phác thảo quy hoạch cảnh quan, bố trí mặt bằng, dựng mặt đứng, 3D, bổ chi tiết và thi công. Trong SCOR, bạn không những dễ dàng tìm thấy các quy trình chuẩn, mà còn các thực hành tốt nhất trong ngành của bạn (best-in-class).

6.SCPR không chỉ làm thay đổi quy trình chuỗi cung ứng

SCPR nói riêng và BPR nói chung không chỉ đơn thuần là sự thay đổi về mặt quy trình chuỗi cung ứng, quy trình kinh doanh của công ty, mà còn là sự thay đổi nền tảng trong cung cách làm việc cũng như văn hóa công ty. Điều này có được nhờ việc sở hữu một hệ thống quy trình xuyên suốt, sự thống nhất về mục tiêu chung cùng chức năng, nhiệm vụ riêng biệt giữa các phòng ban, phân địh rõ ràng chức năng nhiệm vụ của mỗi phòng ban trong mỗi một quy trình hay công việc cụ thể.

7.SCPR là sự khởi đầu

Như đã nói ở trên, sau một loạt các cải tiến liên tục, SCPR là sự thay đổi đột biến, là sự ra đời của một hệ thống quy trình mới. Tuy nhiên, chúng ta đang sống trong một môi trường liên tục thay đổi, vì thế SCPR có thể là tuyệt vời tại thời điểm thiết kế, nhưng đã không còn là như vậy ở thời điểm chúng ta đưa chúng vào sử dụng (do bối cảnh kinh doanh đã thay đổi). Cho nên, sau khi triển khai SCPR, cần phải liên tục cải tiến quy trình để điều chỉnh cho phù hợp hơn với thực tiễn và sự biến động không ngừng của môi trường kinh doanh. Và sau hàng loạt các cải tiến liên tục, rồi đến một lúc nào đó bạn sẽ lại cần đến một dự án  SCPR. Đó chính là vòng xoáy trôn ốc của sự phát triển.

Thương mại điện tử – Kỳ II: Các xu hướng trong ngành Thương mại điện tử Việt Nam

Ở Kỳ 1 – Góc Nhìn Tổng Quan Về Thị Trường Thương Mại Điện Tử Việt Nam, Ipsos BC đã giới thiệu về tổng quan lĩnh vực thương mại điện tử Việt Nam. Kỳ 2 sẽ chủ yếu cung cấp các xu hướng nổi bật của thương mại điện tử Việt Nam hiện nay, cũng như những nhận định của Ipsos BC với từng xu hướng trong thời gian sắp tới.

1. Người tiêu dùng mua hàng qua điện thoại càng nhiều

Điện thoại thông minh đang ngày càng trở thành một kênh mua sắm quen thuộc của người dân Việt Nam, với xấp xỉ 72% lượt truy cập các trang web thương mại điện tử (e-commerce) được ghi nhận đến từ các thiết bị di động. Xu thế này có thể được lý giải từ mức độ phổ biến của điện thoại thông minh tại Việt Nam, với gần 72% dân số đang sở hữu một chiếc điện thoại thông minh.

Ipsos Business Consulting cho rằng xu thế này sẽ còn tiếp tục phát triển trong tương lai khi cơ sở hạ tầng 3G/4G tại Việt Nam ngày càng được cải thiện, cũng như việc sở hữu điện thoại thông minh đang ngày càng dễ dàng hơn với người tiêu dung. Tuy nhiên các doanh nghiệp cũng cần lưu ý rằng tỷ lệ chuyển đổi – phần trăm lượt truy cập website dẫn đến lượt mua sản phẩm thành công – trên điện thoại thông minh vẫn còn khá thấp so với máy tính.

2. Mô hình điện tử ngày càng được ưa chuộng

Theo nghị định 52/2013/NĐ-CP, sàn giao dịch thương mại điện tử, hay còn gọi là chợ điện tử, là “website thương mại điện tử cho phép các thương nhân, tổ chức, cá nhân không phải chủ sở hữu website có thể tiến hành một phần hoặc toàn bộ quy trình mua bán hàng hóa, dịch vụ trên đó.”

Hiện nay trên thị trường e-commerce Việt Nam đang xuất hiện thêm nhiều các trang web theo mô hình chợ điện tử như Sendo (sendo.vn), Adayroi (adayroi.vn), Shopee (shopee.vn), và Tiki (tiki.vn). Số lượng giao dịch thông qua chợ điện tử cũng đang tăng lên trong các năm gần đây. Với mô hình này, một doanh nghiệp hoặc cá nhân có thể dễ dàng kinh doanh sản phẩm và dịch vụ của mình qua Internet, với quá trình đăng ký đơn giản, nhanh chóng và chi phí không quá cao.

Ipsos Business Consulting tin rằng các trang web chợ điện tử sẽ là nơi lý tưởng để các doanh nghiệp Việt Nam vừa và nhỏ có thể bắt đầu kinh doanh qua Internet và tiếp cận được nhiều khách hàng hơn. Với đà tăng trưởng này, mô hình chợ điện tử có thể sẽ sớm vượt qua các trang web thương mại điện tử truyền thống để trở thành nền tảng giao dịch thường xuyên giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng Việt Nam.

3. Logistics cho thương mại điện tử sẽ sớm bùng nổ

Song song với sự phát triển của thương mại điện tử, logistics cho lĩnh vực này cũng đang nhận được rất nhiều sự quan tâm, với một số tập đoàn lớn từ nước ngoài đang tiến vào thị trường như DHL eCommerce, LEL Express (Lazada) cũng như các công ty trong nước như Giao Hàng Nhanh, Giaohangtietkiem, SuperShip. Không chỉ chú trọng mở rộng thị phần, các công ty logistics này cũng đang tích cực tìm kiếm và cung cấp những giải pháp logistics tối ưu hơn, ví dụ như LEL Express đang xây dựng những trung tâm phân loại hàng tự động tại Hồ Chí Minh và Hà Nội.

Hiện nay người tiêu dùng Việt Nam vẫn ưa chuộng hình thức thanh toán bằng tiền mặt (COD), do đó việc sở hữu một hệ thống logistics đáng tin cậy là vô cùng quan trọng với các doanh nghiệp e-commerce. Các công ty lớn như Lazada thường có xu hướng tự xây dựng một bộ phận logistics cho riêng mình (LEL Express). Đối với các công ty vừa và nhỏ, do lợi thế về kinh tế quy mô còn nhỏ và chi phí xây dựng hệ thống logistics chuyên nghiệp lớn, lựa chọn sử dụng các dịch vụ bên thứ ba vẫn là tối ưu nhất.

Với thị trường e-commerce Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ, Ipsos Business Consulting tin rằng logistics cho thương mại điện tử tại Viêt Nam đang sở hữu rất nhiều cơ hội để bùng nổ trong tương lai, nhất là trong bối cảnh cơ sở hạ tầng Việt Nam vẫn chưa thật sự hoàn chỉnh.

Nguồn: VCCI, bạn có thể tham khảo bài viết gốc TẠI ĐÂY

Thương mại điện tử Việt Nam – Kỳ I: Góc nhìn tổng quan về thị trường thương mại điện tử

1. Thị trường thương mại điện tử Việt Nam

Ngành bán lẻ ở Việt Nam bao gồm ba kênh chính: kênh truyền thống, kênh hiện đại, và kênh trực tuyến. Trong đó, kênh truyền thống và hiện đại vẫn đang chiếm ưu thế trên thị trường dưới nhiều hình thức như chợ, cửa hàng tạp hoá, siêu thị, trung tâm thương mại và cửa hàng tiện lợi.

Trong những năm gần đây, bên cạnh kênh bán lẻ truyền thống và hiện đại, thương mại điện tử ngày càng chiếm tỷ trọng lớn hơn trong tổng giá trị thị trường bán lẻ ở Việt Nam, dự kiến đạt 5,4% trong năm 2020, với tốc độ tăng trưởng hằng năm giai đoạn 2013 – 2020 đạt 24.1%.

Các nghiên cứu của Ipsos Business Consulting cho thấy có 4 lý do chủ đạo dẫn đến sự phát triển ngày càng cao của thương mại điện tử:

Gia tăng dân số trẻ: Gen Z (thế hệ sinh ra trong giai đoạn 1997 – 2010) chiếm 16% tổng dân số, tương đương 14 triệu người trong năm 2017, là thế hệ có sự tiếp cận với công nghệ từ rất sớm. Song song đó, Gen Y (sinh từ năm 1981 đến 1996) chiếm 30% dân số, tương đương 29 triệu người trong năm 2017, hiện là nhóm mua sắm trực tuyến lớn nhất ở Việt Nam.

Bình quân thu nhập đầu người cải thiện: Chỉ số này tăng 5,4% trong năm 2017 so với 2016, đồng nghĩa với việc người tiêu dùng có thêm thu nhập khả dụng để chi tiêu cho các nhu cầu cao hơn nhu cầu thiết yếu.

Thị trường bán lẻ phát triển: Năm 2017, Việt Nam xếp hạng 6 trên Chỉ số Phát triển Bán lẻ Toàn cầu (Global Retail Development Index – GRDI), tăng 5 bậc so với năm trước. GRDI là chỉ số đánh giá tiềm năng phát triển ngành hàng bán lẻ ở các quốc gia trên toàn thế giới. Nội trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam chỉ xếp hạng 2 sau Malaysia, cho thấy thị trường bán lẻ của Việt Nam tuy nhỏ về quy mô nhưng đầy tiềm năng với điểm bão hoà thấp.

Hỗ trợ tích cực từ chính phủ: Quyết định 1563 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử giai đoạn 2016 – 2020 đã đặt ra nhiều mục tiêu để tạo điều kiện cho thương mại điện tử phát triển, tập trung hoàn thiện khung pháp luật – chính sách và đầu tư vào mạng lưới cơ sở hạ tầng thương mại điện tử.

2. Mạng xã hội thống lĩnh lượng giao dịch trực tuyến ở Việt Nam

Giao dịch trên các nền tảng mạng xã hội là dạng thương mại điện tử đang thống lĩnh thị trường thương mại điện tử Việt Nam. Trong đó, nền tảng Facebook chiếm 66% số giao dịch trực tuyến của cả nước vào năm 2017.

Sở dĩ hình thức giao dịch qua mạng xã hội được ưa chuộng là do cả người bán và người mua đều có một số lợi ích nhất định khi sử dụng so với các trang thương mại điện tử thông thường.

Người bán Người mua
  • Tận dụng công nghệ lưu trữ và phân tích dữ liệu mà không phải tốn chi phí duy trì tài khoản và nâng cấp tính năng
  • Giảm chi phí kinh doanh, chưa có chế tài nộp thuế rõ ràng
  • Dễ dàng chia sẻ trải nghiệm và đưa phản hồi về sản phẩm trực tiếp bằng tài khoản cá nhân
  • Có thể liên lạc trực tiếp với người bán và theo dõi thông tin phải hồi về sản phẩm từ các thành viên khác trên mạng xã hội

Theo nhận định của Ipsos Business Consulting, sự thống lĩnh của mạng xã hội trong thương mại điện tử mang đến nhiều điều kiện thuận lợi cũng như thử thách cho ngành dịch vụ non trẻ này. Tính năng chia sẻ, bình luận của các nền tảng mạng xã hội góp phần xây dựng môi trường trao đổi minh bạch và đa chiều, tạo ra một không gian thương mại lành mạnh.

Tuy nhiên, do thương mại điện tử vẫn còn là một ngành khá mới, các khung chính sách của nhà nước vẫn chưa bắt kịp theo đà tăng trưởng nhanh của ngành. Do nhà nước vẫn chưa ban hành các cơ chế quản lý thu nhập từ kinh doanh trực tuyến, nhiều người bán có thể dễ dàng tránh đóng thuế thu nhập, từ đó giảm chi phí kinh doanh.

Như vậy, khi chính phủ vẫn chưa tìm ra cách đánh thuế tối ưu và hợp lý cho giao dịch trên mạng xã hội, cuộc cạnh tranh giữa mạng xã hội và các trang thương mại điện tử vẫn sẽ tiếp tục ở thế mất cân bằng.

Nguồn: VCCI, bạn có thể tham khảo bài gốc TẠI ĐÂY

Bán lẻ đang về tay tư nhân

Trong nhiều năm, thị trường bán lẻ ở Việt Nam là sân chơi của các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp FDI nhưng giờ đây, các đại diện của nhóm tư nhân đang trỗi dậy như những thế lực mới.

Hồi cuối tháng 7 vừa qua, siêu thị VinMart với thiết kế mới đã khai trương tại tòa nhà cao nhất Việt Nam Landmark 81. Nằm ở tầng B1, thuộc Khu đô thị Vinhomes Central Park (TP.HCM), VinMart Landmark 81 có tổng diện tích hơn 4.500m2 và là siêu thị VinMart lớn nhất ở khu vực phía Nam. Ngoài VinMart Landmark 81, Vingroup còn bố trí 7 cửa hàng tiện lợi VinMart+ ngay tầng 1 tòa tháp. Tính đến thời điểm hiện tại, Vingroup có trong tay 71 siêu thị lớn và 1.300 cửa hàng tiện lợi trên toàn quốc. 

Nếu tính luôn thương vụ mua lại GM Việt Nam mới đây để kinh doanh dòng xe Chevrolet, Vingroup là đơn vị tư nhân trong nước đầu tiên sở hữu mảng bán lẻ đa dạng nhất cho đến nay khi cung cấp từ quả trứng, hộp sữa cho đến xe hơi.

Trong khi đó, tại Thế Giới Di Động, để đảm bảo tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận 2 con số mỗi năm, công ty này đã mở rộng sang mảng bán lẻ thực phẩm và kinh doanh thuốc tây. Tính đến cuối năm 2017, Thế Giới Di Động nắm trong tay hơn 1.000 điểm bán lẻ điện thoại, 642 cửa hàng Điện Máy Xanh, hơn 280 cửa hàng Bách Hóa Xanh và gián tiếp đồng sở hữu 14 cửa hàng thuốc Phúc An Khang. Trước đó, Thế Giới Di Động cũng đã mua lại chuỗi điện máy Trần Anh để gia nhập thị trường Hà Nội.

Không chịu kém, FPT Retail cũng đã bắt đầu mở rộng sang mảng kinh doanh thuốc tây thông qua việc đầu tư vào Long Châu. Trong 2 năm nữa, FPT Retail kỳ vọng sẽ mở 400 cửa hàng thuốc dưới tên thương hiệu này. Tính đến hết quý II vừa qua, FPT Retail đã mở thêm 43 cửa hàng, nâng tổng số cửa hàng sở hữu lên 516. Mặc dù các công ty như Vingroup, Thế Giới Di Động, FPT Retail đã mở rộng sang nhiều mảng khác nhau để tìm cơ hội tăng trưởng mới nhưng tất cả đều phụ thuộc vào mặt bằng bán lẻ, tức là đất, mà đất là tài nguyên có giới hạn.

Đại diện các chuỗi cửa hàng có chi nhánh trên toàn quốc đều cho biết thị trường hiện rất khan hiếm mặt bằng đẹp, đó là chưa kể giá cũng đội lên đáng kể do cầu tăng cao. “Mới cách đây 1 năm, việc thuê mặt bằng còn khá dễ dàng”, đại diện một chuỗi cửa hàng thời trang nói.

Nguyên nhân là do Việt Nam đang trở thành thị trường có tốc độ phát triển các cửa hàng tiện lợi nhanh nhất khu vực châu Á vào năm 2021. Tốc độ tăng trưởng kép hằng năm của Việt Nam được tổ chức nghiên cứu quốc tế IGD dự báo lên đến 37,4%, cao hơn Philippines  (24,2%) và Indonesia (15,8%). Do đó, các nhãn hàng quốc tế như Circle K (Mỹ), FamilyMart (Nhật) hay B’s mart (Thái Lan)… vẫn đang liên tục mở rộng chuỗi cửa hàng trong thời gian tới.

Đó là chưa kể sự góp mặt của các nhãn hàng ăn uống dành cho giới trẻ, đặc biệt là mặt hàng trà sữa đã góp phần đẩy giá mặt bằng lên khá cao chỉ trong một thời gian ngắn. Nếu như trước đây một mặt bằng “vừa mắt” 4m x 14m có giá cho thuê khoảng 45 triệu đồng/tháng thì nay con số này đã tăng hơn 90 triệu đồng/tháng.

Ban le dang ve tay tu nhan

Mặt bằng đã ít, nay sẽ càng khan hiếm do sự cạnh tranh đến từ các đối thủ ngoại. Điều này sẽ còn tiếp diễn trong thời gian dài với mức độ khốc liệt hơn. Để đảm bảo tốc độ phát triển cả về quy mô lẫn doanh thu cho các mảng mới mở, ba đại diện như Vingroup, Thế Giới Di Động hay FPT Retail buộc phải gia tăng tốc độ M&A.

Các doanh nghiệp nội thiếu tiềm lực tài chính hơn sẽ trở thành mục tiêu thâu tóm của bộ 3 này trong tương lai. Và khi đã thâu tóm nhóm chiếu dưới, không loại trừ khả năng nhóm này sẽ thâu tóm lẫn nhau để bảo toàn vị thế.

Song song đó, nhóm này sẽ phát triển mạnh mảng thương mại điện tử để tạo lợi thế bền vững. Trong kế hoạch kinh doanh năm 2018, Thế Giới Di Động sẽ mở rộng ngành hàng vuivui.com và đưa dịch vụ khách hàng của website này trở thành vị trí số 1 trong lĩnh vực thương mại điện tử.

Còn Hội đồng Quản trị Vingroup cũng vừa thông qua quyết định thành lập VINID, đồng thời góp 2.400 tỉ đồng sở hữu 80% VINID. Đây là động thái ban đầu cho thấy mảng bán lẻ Vingroup trong thời gian tới sẽ đẩy mạnh việc kích thích người sử dụng mua hàng và thanh toán trực tuyến.

Ngành bán lẻ Việt Nam sẵn sàng cất cánh
Trong một báo cáo gần đây, Công ty Chứng khoán ACBS ước tính 75% GDP Việt Nam là được đóng góp bởi bán lẻ. Doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam liên tục đi lên trong 10 năm qua, với tốc độ tăng trưởng kép (CAGR) 2007-2017 là 18%. Theo dự báo, doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ dự kiến đạt khoảng 11 triệu tỉ đồng vào năm 2025, so với mức 3,9 triệu tỉ đồng của năm 2017. 

Nền kinh tế đang phát triển, cơ cấu dân số trẻ, chính trị ổn định và tiến trình đô thị hóa tập trung đang là những hấp lực khó cưỡng với các nhà bán lẻ nước ngoài khi đầu tư vào Việt Nam. Theo bảng xếp hạng Chỉ số Phát triển Bán lẻ Toàn cầu (GRDI) của A.T. Kearney, Việt Nam xếp vị trí thứ 6 trong top 30 thị trường bán lẻ tiềm năng hàng đầu thế giới năm 2017.

Ngành bán lẻ Việt Nam hiện có 2 xu hướng đang trỗi dậy một cách mạnh mẽ: tâm lý hành vi người tiêu dùng ngày càng quốc tế hóasự phát triển của thương mại điện tử. Tâm lý người tiêu dùng ngày càng chuộng sự tiện nghi và mong muốn có trải nghiệm mới mẻ hơn là mua sắm đơn thuần. Họ yêu cầu nơi họ mua sắm cần có môi trường kinh doanh sạch sẽ, có điều hòa, có WiFi để kết nối internet, có sạc điện thoại miễn phí. Đây là nơi mà họ có thể giải trí, hoặc gặp gỡ bạn bè, nghỉ trưa bên cạnh việc mua sắm. Và có lẽ, kênh thương mại hiện đại đã bắt đúng nhịp của các “thượng đế” khi cung cấp đầy đủ các dịch vụ trên. Điều này lý giải cho thị phần tăng trưởng đều đặn của kênh tiêu dùng hiện đại.

Tại Việt Nam, thương mại điện tử chỉ mới khai sinh gần đây nhưng đã có những bước tiến rất dài. Theo ước tính của Cục Thương mại Điện tử và Kinh tế số, doanh thu thương mại điện tử B2C là 5 tỉ USD, tăng 20% qua từng năm. Khảo sát cho thấy, 65% người dùng internet đã mua sắm trực tuyến, mức chi tiêu bình quân đạt 175 USD/người. Dù chỉ chiếm 3% trên tổng số doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ trong năm 2016, thương mại điện tử đang là một sân chơi hứa hẹn với dư địa phát triển không hề nhỏ.

Theo một khảo sát điện tử của Kantar Worldpanel năm 2016, dân cư tại khu vực thành thị sở hữu smartphone nhiều hơn cư dân tại nông thôn (89% cho thành thị, 47% cho nông thôn). Tỉ lệ kết nối internet của hộ gia đình lần lượt là Hà Nội (94%), Đà Nẵng (94%), TP.HCM (92%) và Cần Thơ (80%). Trong bối cảnh các thiết bị kết nối trực tuyến ngày càng phổ biến và dân số gia tăng kết nối, khả năng bùng nổ thương mại điện tử không còn là một giả thuyết mơ hồ, mà là khi nào trong tương lai gần? Theo ước tính của Chính phủ, năm 2020 doanh thu thương mại điện tử B2C sẽ đạt 10 tỉ USD, chiếm 5% doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ.

 

Theo nhipcaudautu, bạn có thể tham khảo bài viết gốc TẠI ĐÂY

Đằng sau bảng xếp hạng 500 nhà bán lẻ lớn tại Châu Á Thái Bình Dương

Tạp chí Retail Asia số tháng 6&7 năm 2018 vừa công bố 500 nhà bán lẻ lớn tại khu vực Châu Á Thái Bình Dương, trong đó Thế Giới Di Động nhảy “một mạch” từ vị trí 110 năm ngoái lên đứng thứ 70 trong danh sách này

Quy mô nhà bán lẻ này trong năm 2017 ở mức doanh thu 3,2 tỷ USD, lợi nhuận sau thuế công bố là hơn 2.200 tỷ đồng, cũng tăng “một mạch” từ mức gần 2 tỷ USD1.577 tỷ đồng năm 2016. Thế Giới Di Động có truyền thống đi nhanh và mở rộng thần tốc là điều ai cũng biết, thế nhưng so với các nhà bán lẻ khác trong khu vực, câu chuyện của Thế Giới Di Động còn chứa đựng một điều đặc biệt khác.

Đằng sau bảng xếp hạng 500 nhà bán lẻ lớn tại Châu Á Thái Bình Dương - Ảnh 1.

 

Trong 14 nền kinh tế được Retail Asia đưa vào danh sách, chỉ có ở Việt Nam, một nhà bán lẻ thuộc lĩnh vực điện thoại và điện tử tiêu dùng chiếm vị trí số 1, còn ở những nước khác, các vị trí dẫn đầu luôn thuộc các nhà bán lẻ hàng tiêu dùng. Điều này hoàn toàn hợp lý khi thị trường của lĩnh vực thực phẩm, hàng tiêu dùng luôn lớn hơn rất nhiều lần so với ngành hàng điện tử. Thế nhưng, tại Việt Nam, Thế Giới Di Động đã làm tốt tới mức họ vươn lên dẫn đầu với chỉ ở lĩnh vực rất cốt lõi là bán điện thoại và điện tử tiêu dùng. Xếp hạng của Thế Giới Di Động theo doanh thu gấp đôi nhà bán lẻ xếp ở vị trí thứ 2, có thể nói là một vị trí dẫn đầu rất vững chắc.

Thế nhưng, điểm đặc biệt thứ hai là Thế Giới Di Động dường như vẫn chưa muốn dừng lại ở đó. Nhà bán lẻ này chắc chắn đã nhìn thấy tương lai của lĩnh vực bán lẻ nằm ở ngành bán lẻ thực phẩm, hàng tiêu dùng nên đã nhanh chóng tiếp cận với lĩnh vực này bằng Bách hóa Xanh. Tại Việt Nam, tổng dung lượng thị trường của ngành hàng thực phẩm có thể gấp 10 lần thị trường điện tử, điện gia dụng (60 tỷ USD so với 6-7 tỷ USD). Và như vậy có thể nói, con đường phía trước đối với Thế Giới Di Động còn thênh thang rộng mở. Báo cáo của công ty gần đây cho biết, chuỗi Bách hóa Xanh tiếp tục ghi nhận sự tăng trưởng mạnh mẽ, đạt doanh thu hơn 350 tỷ trong tháng 06/2018. Với 384 cửa hàng cuối tháng 06, mức doanh thu bình quân tính cho các cửa hàng Bách hóa Xanh đã hoạt động tối thiểu 30 ngày đạt trên 850 triệu đồng/cửa hàng. Trong khi đó, mức tính toán điểm hòa vốn cho mỗi cửa hàng trung bình của một số công ty chứng khoán là khoảng 700 – 800 triệu.

Đằng sau bảng xếp hạng 500 nhà bán lẻ lớn tại Châu Á Thái Bình Dương - Ảnh 3.

Thị trường bán lẻ hàng thực phẩm tiêu dùng (thực phẩm khô và thực phẩm tươi sống) vẫn chưa chứng kiến sự bứt phá của một “nhân tố” thực sự mạnh mẽ nào và Bách hóa Xanh được kỳ vọng là sẽ khai phá thị trường còn đang rất nhiều mảnh đất trống này. Thế Giới Di Động đang đặt mục tiêu chuỗi bán lẻ này sẽ bứt phá và trở thành động lực dẫn dắt sự tăng trưởng của toàn công ty trong vài năm tới, cũng giống như cách Điện máy Xanh đã vượt qua chuỗi thegioididong.com ở thời điểm hiện tại. Và nếu mọi thứ diễn ra theo đúng kịch bản như vậy, bảng xếp hạng của tạp chí Retail Asia khi ấy chắc chắn sẽ không có sự khác biệt nào, khi dẫn dắt ngành bán lẻ của 14 nền kinh tế đều là những doanh nghiệp bán hàng thực phẩm tiêu dùng với các chuỗi siêu thị, siêu thị mini hay cửa hàng tiện lợi.

Theo CafeF, bạn có thể tham khảo bài viết TẠI ĐÂY

Smartlog kêu gọi thành lập liên minh giao hàng siêu thị

Đã đến lúc các nhà cung cấp dịch vụ logistics cần ngồi lại với nhau và cùng cắt giảm chi phí cho kênh giao hàng siêu thị.
Đây không chỉ vì mục tiêu đem lại sự hiệu quả cho ngành, mà còn chứng minh 1 điều: thời của LOGISTICS CỘNG TÁC đã đến

Hiện nay Smartlog đã có được sự ủng hộ của khoảng 15 doanh nghiệp logistics chuyên nghiệp, sẵn sàng ngồi lại với nhau để thảo luận và đủ sức kick-off dự án liên minh, cùng giải quyết bài toán giao hàng cho kênh siêu thị (mô hình x-docking hay cross-docking).

Mời các bạn xem qua video về ý tưởng của Smartlog:

Dự án này chỉ thành công khi có sự hợp tác đầy đủ, minh bạch và được theo dõi theo thời gian thực của các bên liên quan nên Smartlog sẵn sàng đóng góp bằng công nghệ và kinh nghiệm vận hành kho soạn hàng cho siêu thị.

TOGETHER WE ACHIEVE MORE!