Hoạch định phân phối: Tạm biệt nhà kho, xin chào trung tâm phân phối

Hoạch định phân phối: Tạm biệt nhà kho, xin chào trung tâm phân phối

Kurt Bình và cộng sự tại công ty SCM 

Hiện nay, nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã ý thức được tầm quan trọng của chuỗi cung ứng. Không chỉ bởi vì chuỗi cung ứng đem lại những lợi thế mà bấy lâu nay doanh nghiệp bỏ qua, đặc biệt trong việc cắt giảm chi phí đồng thời nâng cao chất lượng dịch vụ, mà còn vì chuỗi cung ứng đã lộ diện là một vũ khí sắc bén giúp doanh nghiệp có thể cạnh tranh bền vững trong xu thế nhiều mặt hàng tiêu dùng nhanh và lâu bền đang dần bị phổ thông hóa.

Nhiều doanh nghiệp đã đầu tư vào việc nghiên cứu, tìm hiểu và ứng dụng quản trị chuỗi cung ứng. Những khóa học, đào tạo về quản trị chuỗi cung ứng và logistics đã dần đông người tham gia hơn, hào hứng hơn. Không ít doanh nghiệp cũng đã bắt tay vào triển khai các hệ thống CNTT hiện đại để quản trị chuỗi cung ứng và logistics.

Vậy doanh nghiệp cần bắt đầu công cuộc chuyển đổi chuỗi cung ứng của mình từ đâu? Đây là câu hỏi không dễ trả lời. Có quá nhiều gót chân Archilles mà doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt: từ con người đến hệ thống, từ kinh nghiệm quản lý nguồn cung đến quản lý phân phối.

Một trong những gót chân ấy chính là hệ thống phân phối mà bộ não nằm ở trung tâm phân phối.

Gót chân Archilles của chuỗi cung ứng: Trung tâm phân phối

Chuỗi cung ứng là một phạm trù mang tính hệ thống và phức hợp đòi hỏi mỗi doanh nghiệp cần nhận diện tốt những điểm yếu (gót chân Archilles), để từ đó đưa ra những chiến lược phù hợp trước khi có thể tái cấu trúc một cách hiệu quả.

Xác định gót chân Archilles bao gồm hai yếu tố: độ yếunghiêm trọng (weak and critical level). Nơi có mức độ yếu nhất trong hệ thống sẽ nằm tại điểm yếu nhất và nghiêm trọng nhất của hệ thống.

Vậy đâu là điểm yếu nhất và nghiêm trọng nhất của các doanh nghiệp Việt Nam?

Chúng tôi đã phân tích và có ma trận so sánh dưới đây.


Ở bảng trên, mức độ yếu được đo bằng năng lực (capability) mà tại điểm ấy không đáp ứng được yêu cầu chung của toàn hệ thống. Ví dụ, mức độ out of stock (thiếu hàng bán) được chấp nhận trong toàn chuỗi cung ứng là 7-10%, tuy nhiên khả năng tại điểm nút với năng lực hiện có chỉ có thể đáp ứng được con số 11-15% trong điều kiện mức chi phí vận hành được coi là hợp lý. Còn mức độ nghiêm trọng nói lên mức độ (probability) rủi ro và tác động (impact) của rủi ro đổ vỡ tại điểm nút làm ảnh hưởng lên toàn chuỗi.

Theo khảo sát của chúng tôi với một số doanh nghiệp thì Con người, Hoạch định và dự báo, Trung tâm phân phối là những gót chân Archilles mà doanh nghiệp cần phải cải tổ trước hết.

Không phải ngẫu nhiên mà nhiều năm gần đây chúng ta đã chứng kiến một làn sóng nâng cấp hệ thống trung tâm phân phối của nhiều doanh nghiệp. Cụ thể Unilever với trung tâm phân phối hiện đại tại khu công nghiệp VSIP 1, P&G cũng không kém cạnh với trung tâm phân phối vừa được hoàn thành tại ICD Sóng Thần. Không chỉ có thế, làn sóng này còn lan rộng ra nhiều doanh nghiệp Việt Nam như Massan, Saigon Co-op…

Từ kho chứa hàng đến trung tâm trung tâm phân phối: Phá vỡ bí ẩn chiếc hộp đen

Doanh nghiệp Việt Nam, chúng ta đã có trung tâm phân phối đúng nghĩa chưa?

Thực tế là bấy lâu nay nhà kho phân phối không được xem trọng như đúng vai trò của nó. Bởi thế, chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi chúng ta đi thăm một nhà kho phân phối hàng tiêu dùng nhanh và nhìn thấy chất lượng thực sự tệ hại của nó. Bạn khó có thể biết được có bao nhiêu hàng trong kho và số hàng này theo dự kiến sẽ đi đâu về đâu. Nguyên do nằm ở bài toán chi phí và lợi nhuận. Nhưng sâu xa hơn, gốc rễ của vấn đề bắt nguồn từ tầm nhìn và năng lực phát triển.

Mô hình kho truyền thống ấy đã quá lỗi thời. Nó như một ốc đảo, ở đó người ta làm gì và làm ra sao chỉ có Thiên Lý Nhãn, Thuận Phong Nhĩ may ra biết được. Ngay cả bản thân những nhân sự quan trọng trong kho cũng đều được quy về cùng một tên là “thủ kho”, với vai trò cầm giữ hàng thật chặt hơn là điều tiết dòng chảy hàng hóa liên tục.

Nhưng giờ đây mọi thứ đã đổi khác. Dưới áp lực của dịch vụ khách hàng, của chất lượng và tiêu chuẩn đạo đức kinh doanh thì nhà kho trở thành điểm đến đầu tiên cho mọi công cuộc đổi mới chuỗi cung ứng. Làn sóng ấy bắt đầu từ các công ty sản xuất hàng tiêu dùng đa quốc gia tại Việt Nam, sau đó đã lan dần sang các công ty hàng tiêu dùng Việt Nam và tiếp tục được coi là làn sóng tiên phong đổi mới chuỗi cung ứng.

Tuy nhiên để các doanh nghiệp Việt Nam có thể xây dựng được cho mình một trung tâm hoàn thiện đơn hàng, không những đáp ứng yêu cầu của hiện tại mà còn phải đáp ứng các xu thế phát triển trung tâm phân phối trong tương lai đòi hỏi có một cái nhìn đúng về trung tâm hoàn thiện đơn hàng. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam, vì muốn giải quyết bài toán trung tâm phân phối đã nhanh chóng tuyển dụng các nhân sự có kinh nghiệm từ các tập đoàn đa quốc gia về hỗ trợ. Dẫu sao, chỉ những công ty có quy mô lớn mới đủ khả năng đãi ngộ những nhân sự “quý hiếm” như thế.

Ở khuôn khổ bài viết này chúng tôi sẽ tập trung vào các nguyên tắc cơ bản cho phát triển trung tâm phân phối đúng nghĩa. Qua đó hi vọng sẽ giúp các doanh nghiệp sẽ có thêm thông tin hữu ích trên sa bàn hoạch định chiến lược kinh doanh và chuỗi cung ứng của mình.

Hiểu đúng về trung tâm phân phối: Đâu có gì là bí ẩn

Trung tâm phân phối không chỉ là một kho chứa hàng thông thường như nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn nghĩ. Theo hai chuyên gia thuộc tập đoàn Accenture: Jeffrey B. Cashman và Bruce S. Richmond, cho dù bạn yêu hay ghét tồn kho, cho dù bạn chẳng muốn nhìn thấy nó đi chăng nữa thì nó vẫn tồn tại và vì vậy kho hàng luôn tồn tại và sống khỏe. Nhưng kho hàng ngày nay không đơn thuần là nơi hay cơ sở để chứa hàng nữa – chí ít là đối với những công ty thông thái về chuỗi cung ứng. Nó chính là trung tâm phân phối, nó đảm bảo dòng chảy hàng hóa liên tục và gia tăng nhiều giá trị để hoàn thành tốt đơn hàng. 

Trung tâm phân phối (distribution center) hay hoàn thiện đơn hàng (fulfillment center)?

Về bản chất thì chúng đều là nơi xử lý và hoàn thành một đơn hàng nào đó. Tuy nhiên khái niệm trung tâm hoàn thiện đơn hàng mang ý nghĩa của một mô hình kéo nhiều hơn so với trung tâm phân phối. Ở đó các hoạt động cá biệt hóa (customization) được thực hiện với quy mô và độ phức tạp cao hơn nhiều. Khái niệm trung tâm hoàn thiện đơn hàng ra đời trên nền tảng của phát triển thương mại điện tử.

Thương mại điện tử đã đặt ra các yêu cầu về xử lý đơn hàng ở cấp độ cao hơn cả về tốc độ (lead time) và giá trị gia tăng (value-added customization), điều mà một trung tâm phân phối thông thường sẽ không đủ khả năng đảm nhận. Hơn nữa, trung tâm hoàn thiện đơn hàng thường hướng đến việc giao hàng trực tiếp đến tay người tiêu dùng theo mô hình B2C (business to consumer).

Vai trò của trung tâm phân phối ngày càng trở nên quan trọng hơn trong việc đảm bảo một chuỗi cung ứng vận hành thông suốt và hoàn hảo. Đặc biệt, trung tâm phân phối là điểm tiếp xúc nhạy cảm nhất giữa cung và cầu trong mỗi doanh nghiệp.  Vì vậy, sứ mạng chủ chốt của trung tâm phân phối là dung hòa được các yêu cầu từ cung và cầu.

Từ phía cung, trung tâm phân phối phải đảm bảo tính hiệu năng (efficiency), bao gồm quản lý tồn kho hiệu quả, vận tải tối ưu, vận hành trung tâm một cách hoàn hảo.

Từ phía cầu, trung tâm phân phối phải đảm bảo được khả năng đáp ứng cao và nhanh (response). Đây là một trong những sứ mạng vô cùng quan trọng, đòi hỏi mức độ linh hoạt và thích ứng rất cao. Nhu cầu khách hàng không chỉ dừng lại ở việc nhận được một kiện hàng, mà cả những giá trị kiện hàng có thể đem lại. Về cơ bản, chúng ta có thể chia làm 3 nhóm khách hàng chính để từ đó đưa ra những chiến lược phát triển trung tâm phân phối phù hợp.

Hình dưới đây minh họa hai sứ mạng quan trọng của trung tâm phân phối. Thách thức đặt ra là làm sao cân bằng được hai sứ mạng này.

Đứng trên phương diện các chức năng hoạt động, để hoàn thành hai sứ mạng quan trọng trên, trung tâm phân phối ngày nay cần trang bị khả năng thực thi các hoạt động từ quản lý tồn kho, bổ sung tồn kho, cá biệt hóa (customization) đến cross docking, hoạch định vận tải, định vị hàng hóa, … như hình 2 dưới đây.

Về cơ bản, chức năng chính của trung tâm phân phối là:

  • Xử lý và hoàn thành đơn hàng.
  • Quản lý việc vận chuyển hàng (trung tâm phân phối là đầu não điều tiết toàn bộ hoạt động phân phối một cách nhịp nhàng),

Và ngoài ra sẽ tham gia vào việc tạo ra giá trị như trì hoãn đơn hàng (postponement) hay đẩy nhanh việc chuyển hàng (cross-docking).

Ở góc độ giá trị gia tăng, trong khi hoạt động sản xuất chủ yếu (vốn đã phổ thông hóa và không có nhiều khác biệt giữa các đối thủ) là để duy trì giá trị thì phân phối sẽ là nơi tạo thêm nhiều giá trị gia tăng cho khách hàng”. Hình 3 dưới đây thể hiện chuỗi giá trị mà hoạt động phân phối đóng vai trò vô cùng quan trọng.

Xây dựng trung tâm phân phối: Ba bước đạt hiệu quả cao nhất

Bước 1: Bắt đầu từ điểm tách nối (decoupling) hay chuyện của  Kéo (pull) và Đẩy (push)

Trước tiên, chúng ta cần nhìn nhận quản lý phân phối là một quá trình chứ không phải một chức năng. Nghĩa là luôn có sự kết nối giữa các hoạt động trong một quy trình tổng thể mà ở đó trung tâm phân phối được coi là bộ não.

Việc xây dựng trung tâm phân phối cần bắt đầu từ việc lựa chọn đúng điểm tách nối. Theo đó, quy trình hoạt động phân phối sẽ được bắt đầu tại chính điểm mà đơn hàng (nhu cầu) phát sinh (Order Penetration Point). Điều này cũng giống như việc chúng ta đẩy (push) sản phẩm cho đến mức độ nào đó thì nó sẽ được kéo (pull) bởi nhu cầu. Và điểm tách biệt giữa đẩy và kéo chính là nơi bắt đầu của quy trình phân phối.

Chúng ta cần lưu ý khái niệm đẩy và kéo được hiểu trên hệ quy chiếu của nhu cầu. Lý tưởng nhất là toàn bộ chuỗi cung ứng được kéo bởi nhu cầu, nghĩa là toàn bộ hoạt động dựa trên nhu cầu thực tế của khách hàng, giúp doanh nghiệp đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng. Nhưng đổi lại doanh nghiệp sẽ phải hi sinh về thời gian và chi phí. Dell là một ví dụ điển hình của một doanh nghiệp kéo theo nhu cầu. Theo đó, hoạt động sản xuất chỉ xảy ra khi có đơn hàng (hay còn gọi là mô hình sản xuất theo đơn hàng (make-to-order)). Nhưng Dell vẫn chưa là một mô hình kéo hoàn toàn, bởi lẽ các nhà cung cấp của Dell thay vì chỉ sản xuất khi Dell đặt hàng thì phải dự báo trước nhu cầu để sản xuất linh kiện sẵn sàng cho lắp ráp.

Ở Việt Nam, phần lớn các doanh nghiệp chủ yếu là đẩy sản phẩm đến trung tâm phân phối sau đó mới kéo theo nhu cầu của khách hàng. Tuy nhiên trong tương lai việc kéo theo nhu cầu sẽ lan rộng hơn theo hướng sâu vào hoạt động sản xuất, lắp ráp.

Hình dưới đây thể hiện một số mô hình phân phối cơ bản mà doanh nghiệp cần cân nhắc ở tầm chiến lược trước khi phát triển trung tâm phân phối.

Ở hình 4, chúng ta có 5 loại mô hình phân phối khác nhau với sự tham gia khác nhau của trung tâm phân phối. Mô hình truyền thống hiện tại ở Việt Nam chủ yếu là phân phối/bán hàng trực tiếp cho khách hàng (sản xuất tới đâu bán tới đó), vận chuyển theo đơn hàng. Ở mô hình này, sản xuất và tồn kho dựa trên kỳ vọng (dự báo) nhu cầu là chính. Vậy vai trò của trung tâm phân phối ở mỗi mô hình trên cụ thể sẽ là gì? Bảng 2 dưới đây liệt kê các nhiệm vụ chính của trung tâm phân phối cho từng mô hình.

(*), (**):Tác động của công nghệ thông tin, truyền thông giúp thu hẹp khoảng cách giữa hoạt động sản xuất, đóng gói, hoàn thành đơn hàng nên không nhất thiết các hoạt động này phải tập trung tại một cơ sở nhất định. 

Bước 2: Tiếp cận tích hợp khi phát triển trung tâm phân phối

Ngay sau khi bạn đã lựa chọn đúng mô hình phân phối của mình thì bước quan trọng tiếp theo là xây dựng một cách tiếp cận tích hợp với trung tâm phân phối. Việc phát triển trung tâm phân phối là một quá trình chuyển đổi liên quan đến nhiều yếu tố quan trọng, đòi hỏi mỗi doanh nghiệp cần cân nhắc trên tổng thể. Cụ thể nó sẽ liên quan đến quản lý sự thay đổi, hạ tầng/công nghệ và quy trình kinh doanh trong một tổng thể của chiến lược chuỗi cung ứng.

Hình 5 dưới đây thể hiện cách tiếp cận tích hợp trong việc phát triển trung tâm phân phối.

Mô hình trên cho thấy việc phát triển trung tâm phân phối không đơn thuần chỉ là xây một kho hàng “hoành tráng”. Nếu chỉ có vậy chẳng khác nào bình mới mà rượu vẫn cũ. Như đã nói ở trên, trung tâm phân phối là một khái niệm mới, khác xa so với mô hình kho hàng truyền thống. Nó phải đảm bảo là một đầu mối quan trọng trong chuỗi cung ứng và là đầu não của hoạt động phân phối. Tức là phải đảm bảo sự liên kết về quy trình hoạt động dựa trên nền tảng của công nghệ và hạ tầng, được thực thi bởi đúng đội ngũ nhân sự với đúng kỹ năng cần thiết. Hơn thế nữa, nó phải có khả năng đáp ứng các yêu cầu chiến lược kinh doanh trong tương lai. Ví dụ, nếu doanh nghiệp chuyển từ mô hình vận chuyển theo đơn hàng sang đóng gói theo đơn hàng, đồng nghĩa với các yêu cầu cao hơn về khả năng đóng gói, lắp ráp trong trung tâm phân phối.

Về phương diện công nghệ thông tin, phần lớn các trung tâm phân phối cần được trang bị hệ thống quản lý (WMS-Warehouse Management System) đủ mạnh và có thể kết nối chặt chẽ với toàn bộ hệ thống CNTT của doanh nghiệp. Đây cũng là một điểm yếu của doanh nghiệp Việt Nam. Phần lớn các trung tâm phân phối đều chưa được trang bị hệ thống WMS, làm giảm hiệu quả vận hành của trung tâm rất nhiều.

Điều đáng lưu ý là tại sao phải cần một hệ thống WMS riêng rẽ trong khi chỉ cần sử dụng một phân hệ  trong hệ thống ERP là đủ? Câu trả lời là còn tùy thuộc vào mức độ hỗ trợ của phân hệ ấy. Tuy nhiên, theo khảo sát của WERC (Warehousing Education and Research Council – Hiệp hội nghiên cứu và giáo dục về quản lý kho hàng, Mỹ) thì chỉ có 31% doanh nghiệp được khảo sát tại Mỹ sử dụng WMS như là một phân hệ của hệ thống ERP. Trong khi tỷ lệ sử dụng WMS như là một phần mềm riêng biệt lại chiếm tới 57%, chủ yếu do nhà cung cấp ERP không thể đáp ứng nhiều chức năng quản lý của WMS. Bản thân hệ thống WMS  cần đáp ứng hai chức năng cơ bản của trung tâm phân phối là hiệu năng (quản lý tồn kho chính xác, điều phối hệ thống trang thiết bị, nhân sự, hoạt động một cách năng suất nhất…) và khả năng đáp ứng các yêu cầu dịch vụ giá trị gia tăng. Trong khi phân hệ WMS của ERP chỉ tập trung về mặt quản lý giá trị (tài chính) của hàng tồn kho. Hơn nữa, trong xu thế phát triển và yêu cầu ngày càng cao trong việc tận dụng tối đa và hiệu quả tất cả nguồn lực của trung tâm phân phối, nhiều công ty còn sử dụng thêm hệ thống kiểm soát kho (Warehouse Control System – WCS). WCS cho phép kết nối giữa hệ thống băng truyền, kệ, hệ thống lấy hàng (picking) tự động với WMS để tối ưu hóa huy động nguồn lực trong trung tâm phân phối.

Về phương diện quản lý sự thay đổi, so với mô hình quản lý kho truyền thống, trung tâm phân phối đặt ra các yêu cầu kỹ năng mới cho nhân sự . Thực tế là chúng ta chưa có những chương trình đào tạo cho nhân viên làm việc tại trung tâm phân phối. Các doanh nghiệp phải tự đào tạo, tái đào tạo nhân viên. Có sự khác biệt rất lớn về yêu cầu quản lý hàng hóa tại trung tâm phân phối từ việc nhận, xếp, lấy hàng đến cập nhật thông tin, hoạch định, dự báo, kỹ năng trao đổi thông tin, kỹ năng vận hành các công nghệ mới trong trung tâm. Yêu cầu đa kỹ năng đó đã đặt ra bài toán khó giải cho nhiều doanh nghiệp Việt Nam, bởi lẽ nhân sự chưa được chú trọng nhất. Bản thân nghề quản lý và vận hành trung tâm phân phối không thực sự hấp dẫn cũng là nguy cơ tiềm ẩn gây thiếu hụt nguồn nhân sự đa kỹ năng có chất lượng trong tương lai tại các trung tâm phân phối Việt Nam.

Bước 3: Thuê ngoài hay không thuê ngoài trung tâm phân phối?

Thuê ngoài hoạt động logistics đang trở thành một xu hướng phổ biến tại Việt Nam và vẫn là các công ty đa quốc gia đang cưỡi lên đầu ngọn sóng này. Thuê ngoài trung tâm phân phối cũng là một xu hướng khá rõ nét. Unilever, P&G, Kimberly Clark, Samsung, LG, Metro Cash and Carry, Yamaha, Honda,… đều đã tiến hành thuê ngoài hoạt động trung tâm phân phối. Tuy nhiên mức độ tham gia của nhà cung cấp dịch vụ khác nhau tùy theo từng doanh nghiệp.

Rõ ràng bài toán thuê ngoài đang dần trở thành một phương án tối ưu giúp doanh nghiệp tập trung hơn nữa vào hoạt động/năng lực cốt lõi (core competency), trong khi vẫn có thể tận dụng lợi thế quy mô, kinh nghiệm, nguồn lực số đông của nhà cung cấp dịch vụ logistics bên thứ ba. Một lợi ích quan trọng nữa của phương án này chính là nó giúp doanh nghiệp giải phóng nguồn lực (vốn, tài sản, nhân sự, hệ thống CNTT,..) vốn đang là bài toán đau đầu cho mỗi doanh nghiệp. Suy thoái kinh tế đã đặt doanh nghiệp vào tình thế mà việc thuê ngoài trở nên cấp bách hơn.

Tin vui là nhiều nhà cung cấp dịch vụ logistics thứ ba (3PL) chuyên nghiệp đã mạnh dạn đầu tư vào phát triển trung tâm phân phối hiện đại cả về cơ sở hạ tầng, nhân sự cũng như hệ thống CNTT. ICD Sóng Thần, ICD Tiên Sơn là những ví dụ như thế. Các doanh nghiệp này đã chuyển mình trở thành nhà cung cấp dịch vụ logistics thứ ba chuyên nghiệp. ICD Sóng Thần đã tham gia đầu tư phát triển trung tâm phân phối với các tập đoàn P&G, Toll, Logitem, APL Logistics. Còn ICD Tiên Sơn đã mạnh dạn đầu tư hệ thống WMS hiện đại từ tập đoàn Infor, song song với việc xây dựng trung tâm logistics hiện đại loại A (theo tiêu chuẩn Châu Âu). Như vậy, bên cạnh các nhà cung cấp dịch vụ logistics thứ ba chuyên nghiệp nước ngoài như Schenker Gemadept, Linfox, DHL Supply Chain, YCH liên doanh với Protrade, Mapple Tree,… đang ồ ạt đầu tư trung tâm phân phối hiện đại, các doanh nghiệp dịch vụ logistics trong nước cũng đã và đang tìm cách nâng tầm kịp thời.

Tin không vui là tình trạng thiếu nguồn lực và thiếu kinh nghiệm của cả nhà cung cấp dịch vụ lẫn doanh nghiệp sử dụng dịch vụ logistics vẫn là hạn chế mà các trung tâm phân phối phải đối diện. Do đó, để thuê ngoài trung tâm phân phối hiệu quả có lẽ doanh nghiệp cần đầu tư nhiều hơn đến giai đoạn triển khai ban đầu.

Bảng dưới đây liệt kê bảy bước quan trọng triển khai hiệu quả dự án phát triển trung tâm phân phối

Bảng 3: 7 bước xây dựng trung tâm phân phối hiệu quả

  1. Xây dựng một cách tiếp cận tích hợp chặt chẽ.
  2. Xây dựng quan hệ cộng tác chiến lược với nhà cung cấp (từ nhà thầu xây dựng, đến nhà cung cấp trang thiết bị, nhà cung cấp phần mềm, giải pháp…)
  3. Xây dựng cách tiếp cận quản lý dự án một cách hiệu quả nhất đảm bảo mọi lộ trình đều thông suốt giữa các bên, đồng thời giảm tối đa rủi ro.
  4. Tái trang bị kỹ năng, định hướng công việc, động viên, thúc đẩy và tái đào tạo.
  5. Kiểm nghiệm toàn diện, không bỏ qua bất kỳ một điểm nhỏ nào.
  6. Quản lý dự án với sự tập trung cao độ: doanh nghiệp có thể thiết lập bộ phận phản ứng nhanh để giải quyết mọi tồn đọng của dự án.
  7. Công nghệ chỉ là nền tảng vận hành trung tâm phân phối hiệu quả

Nguồn: SCMR và tổng hợp của tác giả

 

Kết luận

Trung tâm phân phối là xu thế không thể cưỡng nổi trong sự phát triển chuỗi cung ứng tại Việt Nam. Các doanh nghiệp trong nước không thể chần chừ hơn nữa.

Trung tâm phân phối sẽ là nguồn tạo ra lợi thế cạnh tranh bằng cách giúp doanh nghiệp giảm chi phí để trở nên hiệu năng hơn và đồng thời nâng cao hơn nữa chất lượng dịch vụ.

Thay cho lời kết, chúng ta hãy nhìn lại sự tiến hóa của trung tâm phân phối của thế giới trong những năm qua.

Bảng 4: Sự tiến hóa trung tâm phân phối từ nhà kho

 

 Nhà kho truyền thống 

 Trung tâm phân phối 

Đặc điểm chung

Nơi lưu trữ hàng

Trung tâm chuyển hàng nhanh

Tách biệt, hoạt động độc lập

Tích hợp với chuỗi cung và cầu của doanh nghiệp

Là điểm tạo ra chi phí (cost center)

Là nơi tạo ra lợi nhuận (profit center)

Tập trung vào hiệu năng

Hiệu năng nhưng vẫn linh hoạt đáp ứng mọi yêu cầu của khách hàng

Cứng nhắc, định hướng vào hàng hóa

Linh hoạt, định hướng vào dịch vụ và giá trị gia tăng

Không có giá trị gia tăng

Cá biệt hóa sản phẩm (customization) để gia tăng giá trị

Vận hành theo mô hình logistics truyền thống

Tích hợp với hệ thống phân phối và chuỗi cung

Hoạt động bị trùng lắp, thừa thãi

Mọi sự thừa thãi bị giảm thiểu

Một chiều

Gắn kết với chiến lược, con người, quy trình và công nghệ của doanh nghiệp

 Cơ sở hạ tầng 

Lớn, tập trung

Nhỏ hơn, phân bố theo vùng

Lãng phí không gian chứa hàng

Tận dụng tối đa không gian chứa hàng

Không gian phục vụ cho việc lưu trữ (storage-oriented use of space)

Điểm trung chuyển giúp hàng hóa di chuyển nhanh, cộng với các dịch vụ giá trị gia tăng

 Con người và cơ cấu tổ chức 

Mỗi nhân viên, công nhân chỉ làm một việc

Xây dựng nhóm đa kỹ năng

Duy trì thói quen và kinh nghiệm cũ

Xây dựng kỹ năng mới

Tư duy kinh doanh như chuyện thường ngày

Tư duy định hướng vào khách hàng ở mọi cấp bậc

Mô hình quản lý quan liêu quá mức, thiếu sự tin tưởng và phân quyền

Trao quyền cho nhân viên

 Công nghệ 

Tự giải quyết các vấn đề theo quan điểm của từng cá nhân

Giải quyết các vấn đề với sự hỗ trợ của công nghệ

Hệ thống lạc hậu, không kết nối với các bên liên quan

Hệ thống CNTT tích hợp với các bên tham gia vào hoạt động phân phối

Chậm và thiếu chính xác trong việc hỗ trợ dự báo

Hỗ trợ thông tin dự báo ngay lập tức (real time)

Quá chú trọng vào tài sản: hàng hóa, đội xe và nhà kho

Chú trọng vào thông tin

Các kỹ năng về công nghệ lạc hậu

Các kỹ năng về công nghệ mới thông qua đào tạo và tái đào tạo

 Kết quả 

Thời gian xử lý đơn hàng

Tăng nhanh gấp đôi

Mức độ chính xác đơn hàng được vận chuyển

Tốt hơn 20%

Thời gian dịch vụ khách hàng

Tốt hơn 50%

Không gian chứa hàng

Tận dụng tốt hơn 10 đến 20 %

Mức độ chính xác tồn kho

99.9%

Hàng hóa bị hư hại

Giảm 75%

Năng suất lao động của công nhân

Tăng từ 5 đến 40%

Chi phí di chuyển sản phẩm trong kho

Giảm từ 10 đến 20%

Nguồn: SCMR

CASE STUDY GIẢI PHÁP SMARTLOG WMS CHO Ở  TRUNG TÂM PHÂN PHỐI CỦA TRA-SAS

CASE STUDY GIẢI PHÁP SMARTLOG WMS CHO Ở TRUNG TÂM PHÂN PHỐI CỦA TRA-SAS

CÔNG TY CỔ PHẦN VẬN TẢI VÀ DỊCH VỤ HÀNG HẢI (TRA-SAS) là một trong những công ty hàng đầu hoạt động trong lĩnh vực hàng hải, giao nhận xuất nhập khẩu và logistics. Với kinh nghiệm hơn 20 năm trong ngành, công ty đã mở rộng mạng lưới gồm 7 kho hàng với tổng diện tích kho lên đến 21,800 m2, tập trung ở khu vực Bình Dương và Hưng Yên.

Với yêu cầu ngày càng cao từ phía khách hàng, TRA-SAS đã cân nhắc và chọn lựa Smartlog làm đối tác cung cấp giải pháp quản trị kho (Smartlog warehouse management) chuyên nghiệp. Giải pháp của Smartlog có nhiều ưu điểm nổi trội:

  • phù hợp nhiều yêu cầu đặc thù của các ngành hàng khác nhau (thực phẩm, hàng công nghiệp, hàng tiêu dùng nhanh,..),
  • dễ dàng tích hợp với hệ thống ERP SAP
  • đảm bảo tính chính xác trong vận hành nhờ tích hợp hệ thống barcode, handheld,
  • hỗ trợ nhiều chiến lược soạn hàng thông minh…

TRA-SAS đánh giá cao Smartlog ở đội ngũ nhân sự giàu kinh nghiệm về nghiệp vụ logistics, có khả năng tư vấn chính xác, hỗ trợ kịp thời trước các yêu cầu mới của khách hàng.

Từ khi áp dụng giải pháp của Smartlog, năng suất hoạt động kho tăng lên rõ rệt, sai sót được giảm xuống dưới mức 0.02%, ban quản lý nắm bắt tình hình nhập xuất, luân chuyển hàng hóa nhanh chóng, các công tác tổng hợp số liệu, lên hóa đơn được tự động hóa với vài cú click chuột đơn giản. Có thể nói, giải pháp Smartlog Warehouse Management đã giúp nâng cao tính chuyên nghiệp trong dịch vụ kho vận của công ty TRA-SAS lên một tầm cao mới.

Ông Trần Việt Huy, GĐ công ty TRA-SAS đã chia sẻ “Giải pháp Smartlog là một cấu thành rất quan trọng trong hoạt động hàng ngày tại các trung tâm phân phối của TRA-SAS”.

https://youtu.be/QF241oQtH2Q

Hành trình phát triển của “Ông lớn” cửa hàng tiện lợi 7-Eleven

Hành trình phát triển của “Ông lớn” cửa hàng tiện lợi 7-Eleven

Được xem là chuỗi cửa hàng tiện lợi thành công nhất trong lịch sử thế giới, với khoảng 38.000 cửa hàng ở bên ngoài Nhật Bản. Tại Đông Nam Á, 7-Eleven cũng đã “phủ sóng” tới Thái Lan, Malaysia, Philippines, Singapore và Indonesia. Tờ Huffington Post thống kê: Cứ khoảng hai tiếng, ở một nơi nào đó trên thế giới, lại có một cửa hàng 7-Eleven mới mọc lên.

Hãy cùng nhìn lại hành trình chinh phục ngành công nghiệp cửa hàng tiện lợi này của 7-Eleven và chiến lược phát triển sắp tới của công ty qua Case Study sau.

Bạn vui lòng tải về Case Study này TẠI ĐÂY

Nghiên cứu tình huống: một doanh nghiệp kinh doanh hàng điện tử qua mạng tối ưu hóa quy trình xử lý đơn hàng

Nghiên cứu tình huống: một doanh nghiệp kinh doanh hàng điện tử qua mạng tối ưu hóa quy trình xử lý đơn hàng

Đặc điểm và lợi ích

Hiệu suất cao hơn 35% so với quy trình lấy hàng bàn giấy thông thường hay công nghệ RF

Gần 100% lấy hàng chính xác

Giảm thời gian đào tạo nhân viên mới

Nâng cao an toàn lao động và giảm tỉ lệ nhân viên nghỉ việc

Lĩnh vực: Giải pháp xử lý đơn hàng (Order Fulfillment Solutions – OFS)

 

Một hệ thống tích hợp logistics cho phép kho hàng trung tâm Bắc Âu của Elgiganten tọa lạc tại Jönköping, Thụy Điển đạt được độ chính xác 100% khi lấy hàng và đáp ứng được kì vọng lấy hàng hiệu quả cao. Kho hàng này phân phối hơn 4000 sản phẩm đến 247 đại siêu thị ở Nauy, Thụy Điển, Đan Mạch, Phần Lan, Iceland, Greenland (Đan mạch), và cả quần đảo Faroe. Ngoài ra, kho hàng này còn đáp ứng được lượng đơn hàng giao trực tiếp cho khách hàng đang có xu hướng tăng nhanh. Sự bùng nổ của thương mại điện tử đã đem lại nhiều thách thức lớn trong việc đáp ứng đơn hàng. Thay vì xử lý các đơn hàng đa sản phẩm như các kho phân phối truyền thống. Giờ đây, Elgiganten có thể xử lý ổn định lượng đơn hàng chỉ gồm 01 hay 02 sản phẩm – loại đơn hàng có xu hướng tăng mạnh sắp tới về mặt số lượng. Để đáp ứng sự tăng trưởng trong chủng loại hàng hóa và yêu cầu của hệ thống phân phối Elgiganten, Dematic đã xây dựng một giải pháp logistics tích hợp có thể xử lý linh hoạt nhu cầu kinh doanh thương mại điện tử và cũng cố kế hoạch phát triển thần tốc Elgiganten đề ra cho mình – tăng sự hiện diện của các cửa hàng ở Băc Âu trong một vài năm tới.

 

Giải pháp lấy hàng và đóng gói linh hoạt mới

 

“Các kênh thương mại điện tử của chúng tôi phát triển với tốc độ 50% mỗi năm, và chúng tôi cũng muốn đẩy nhanh việc đa dạng hóa chủng loại sản phẩm. Ban đầu, chúng tôi liên hệ với Dematic để phát triển mô-đun phân tách thùng hàng (Split Case Module) phục vụ mục tiêu nâng cao hiệu quả xử lý đơn hàng.” – Andreas Thimour (giám đốc phát triển của Elgiganten) giải thích. Mô đun phân tách thùng hàng là một hệ thống  định tuyến theo khu vực, mà ở đó mỗi thùng hàng sẽ được đưa đến các vùng lấy hàng phù hợp với sản phẩm đơn hàng cần. Các khu vực không có sản phẩm cần sẽ được bỏ qua. Để cải thiện tốc độ, hiệu quả và năng lực đáp ứng đơn hàng, hệ thống nhà kho được phân chia thành nhiều khu vực lấy hàng. Hàng tiêu dùng nhanh và chậm được lấy ở các khu vực riêng biệt để hệ thống điều phối dễ dàng, và tối ưu hóa được hiệu suất.

 

Các hoạt động được điều phối bằng giọng nói

 

Nhân viên kho làm việc với nhau để lấy hàng thông qua một hệ thống điện thoại di động, máy MP3, và camera điện tử với công nghệ điều khiển bằng giọng nói. Nhân viên lấy hàng mang một thiết bị tai nghe có gắn microphone, nhờ vậy họ nhận được yêu cầu và xác nhận nhiệm vụ một cách rõ ràng thông qua hệ thống âm thanh. Hệ thống lấy hàng được điều phối bằng âm thanh giúp nhân viên rảnh tay và rảnh mắt mọi lúc, từ đó nâng cao được hiệu quả lấy hàng – lấy nhanh hơn, dễ hơn, lấy đúng hàng cho đúng đơn hàng, và cũng nâng cao mức an toàn lao động thông qua việc để nhân viên toàn tâm chú ý đến quy trình lấy sản phẩm.

 

Ta sẽ không cần đến nữa danh sách lấy hàng hay các trạm RF, những thứ đòi hỏi nhân viên lấy hàng sử dụng tay và mắt để đọc, điều hướng, hay xác nhận nhiệm vụ. Hệ thống điều khiển bằng giọng nói của Dematic giúp duy trì các tương tác thời gian thực với hệ thống quản lý nhà kho (WMS). Nhân viên chỉ cần đọc địa chỉ và số lượng hàng cần lấy cho các nhân viên khác lấy hàng. Nhân viên lấy hàng sẽ xác nhận hoàn thành nhiệm vụ bằng cách đọc lại 03 chữ số cuối mã EAN cho sản phẩm. Điều này giúp ta đảm bảo lấy đúng sản phẩm, từ đó loại bỏ được rủi ro lấy sai hàng. “Các chữ số cuối cùng quan trọng vì trong một số tình huống, nhiều sản phẩm giá trị cao nên được giao trực tiếp cho khách hàng cuối cùng” – Andreas Thimour giải thích.

 

Sử dụng nguồn lực con người một cách linh hoạt

 

“Kể từ khi áp dụng hệ thống, chúng tôi không ngừng tối ưu và cải thiện hiệu suất vận hành.” – Daniel Lundby, giám đốc dự án, khẳng định. “Dematic phải có trách nhiệm làm cho mọi thứ vận hành thật hoàn hảo. Và thật vậy, họ đã làm việc hết sức chuyên nghiệp, đem lại một giải pháp tốt và đáp ứng nhanh chóng các thách thức phát sinh. Năng suất và hiệu suất được tối ưu hóa nhờ vào sự hỗ trợ từ hệ thống đáp ứng đơn hàng của Dematic, giúp các nhân viên kho dành nhiều thời gian và nổ lực hơn cho các công việc khác mang lại giá trị cao hơn. Ngoài ra, vào những mùa cao điểm như Giáng Sinh và chúng tôi thật sự cần, chúng tôi còn tăng được lượng hàng hóa phân phối thông qua việc tăng số lượng nhân viên lấy hàng trong hệ thống định tuyến khu vực.” – Lundby khẳng định./.

 

Nguồn: MHI 

 

Case study về quản lý vận tải tại Manuchar – trút bớt ưu phiền nhờ Mobile Apps STM

Case study về quản lý vận tải tại Manuchar – trút bớt ưu phiền nhờ Mobile Apps STM

Manuchar Việt Nam (Manuchar) đã triển khai thành công giải pháp quản lý vận tải STM (Smartlog Transportation Management) để không chỉ cải thiện hiệu quả hoạt động vận tải vốn ngày càng phức tạp mà còn giảm bớt ưu phiền cho đội ngũ nhân sự vận tải. Hệ thống STM với ứng dụng điện thoại (mobile apps) dành cho tài xế là chìa khóa cho mỗi ngày làm việc nhẹ nhàng và vui vẻ của đội xe vận tải. (more…)