Nông nghiệp 4.0 sẽ cung cấp khẩu phần ăn cho 10 tỷ người như thế nào?

Nông nghiệp 4.0 sẽ cung cấp khẩu phần ăn cho 10 tỷ người như thế nào?

Con người sẽ cần phải ăn nhiều hơn và khẩu phần lương thực thế giới cũng sẽ tăng gấp nhiều lần.

Dưới mỗi máy chứa hạt lại là những bánh xích nhỏ để làm rãnh trồng và lấp đất. Khi xe di chuyển, hạt sẽ được gieo xuống rãnh trồng một cách ngay ngắn. Chiếc máy gieo hạt hoạt động trơn tru mà không ảnh hưởng đến cấu tạo địa chất và hệ sinh thái đất nhiều. Khi những cơn mưa đầu mùa ghé thăm nơi đây, cũng là thời điểm bội thu cho cánh đồng màu mỡ này.

Mô hình trên được gọi là No-Till Farming (tạm dịch: nông nghiệp không cày xới), một trong những tiến bộ trồng trọt của kỷ nguyên 4.0 được ứng dụng tại tiểu bang Kentucky và dần nhân rộng ra khắp nước Mỹ. Những sáng kiến trên là tiền đề quan trọng để đáp ứng sự thay đổi của thời đại: khẩu phần ăn thế giới năm 2050.

Người trồng ít, người ăn nhiều
Giai đoạn 2030-2050, cấu trúc xã hội và cuộc sống sẽ có những chuyển hóa chưa từng có. Ngày hôm nay, dân số thế giới là 7,6 tỉ người và được dự đoán sẽ đạt 10 tỉ người vào năm 2050.

Thay vì phân bổ đều đặn giữa nông thôn và thành thị, 66% dân số năm 2050 sẽ tập trung tại các thành phố lớn, so với mức 50% hiện tại. Sự tập trung đô thị hóa lớn đòi hỏi hệ thống phân bổ lương thực phải hiệu quả và giảm thiểu được lãng phí. Gánh nặng nuôi sống cả thế giới của nông dân sẽ nặng nhọc hơn, khi tỉ lệ người trồng trọt so với người tiêu thụ thực phẩm có khả năng giảm.

Theo báo cáo nông nghiệp mới nhất của World Government Summit, “Agriculture 4.0: The Future of Farming Technology”, thế giới sẽ có một khẩu phần ăn nhiều đạm hơn. Nếu trong giai đoạn 1997-1999, lượng thịt cần tiêu thụ hằng năm trên đầu người là 36,4kg, thì vào năm 2030, con số này là 45,3kg thịt và thực phẩm đã qua xử lý.

Cấu trúc xã hội và giá trị xã hội mới cũng khiến khẩu phần ăn con người thay đổi. Trung bình cứ 7 người sẽ có 6 người cần phải tiêu thụ trên 3.000 calorie mỗi ngày. Năm 2050, 10 tỉ người sẽ tiêu thụ lương thực gấp 70% so với mức sản lượng gần 4 tỉ tấn/năm hiện nay.

Như vậy, con người sẽ cần phải ăn nhiều hơn và khẩu phần lương thực thế giới cũng sẽ tăng gấp nhiều lần. Tuy nhiên, con đường phải đi sẽ không bằng phẳng. Tính đến thời điểm này, thế giới có gần 2 tỉ người đang đối diện với vấn nạn suy dinh dưỡng và thách thức đến từ tự nhiên đang khắc nghiệt hơn bao giờ hết.

Báo cáo gần đây của Accenture và Oliver Wyman chỉ ra rằng, biến đổi khí hậu diễn ra thường trực và rõ nét. Thiên nhiên không còn hiền hòa và dễ đoán như xưa. Tình trạng lũ lụt và hạn hán diễn ra ngày càng trầm trọng hơn, hậu quả là mất mùa và năng suất nông nghiệp sụt giảm. Trong thế kỷ XXI, thế giới ghi nhận 15/16 năm có nhiệt độ nóng kỷ lục. Lượng khí thải nhà kính tăng gấp đôi trong vòng 50 năm. Trong đó nông nghiệp chịu trách nhiệm hơn 20% lượng khí thải nhà kính, theo báo cáo “The Future of Food” của Accenture.

Ý tưởng cho nông nghiệp hiện đại 4.0 
Công nghệ ngày càng phát triển và sự sáng tạo không ngừng lan tỏa. Nông nghiệp trong tương lai có thể sẽ thu được lợi ích không nhỏ từ sự đột phá của công nghệ 4.0. Những ý tưởng đầy hứa hẹn gồm trồng trọt thủy sinh, thức ăn chăn nuôi từ tảo, nông nghiệp đô thị, nông nghiệp không cày xới, công nghệ blockchain và Internet vạn vật (IoT).

Trong đó, nông nghiệp đô thịnông nghiệp không cày xới là khả thi hơn cả trong điều kiện hiện tại. Tại hạt Christian Country, Kentucky, nông dân giờ được khuyến khích áp dụng công nghệ trồng trọt không cày xới. Công nghệ này được xem là ưu việt vì dễ áp dụng và giá thành đầu tư rất thấp.

Điều kiện cần là những chiếc máy cày cải tiến, được tích hợp những bánh xích có diện tích tiếp xúc nhỏ và các máy gieo hạt. Điểm nhấn của công nghệ này là hạn chế sự tiếp xúc giữa nông cụ và đất canh tác. Thay vì cày xới cả khu đất thì nay các máy cày này chỉ tạo rãnh sâu vừa phải để gieo hạt và giữ nguyên tầng lớp địa sinh tại diện tích không canh tác.

Như thế, lượng carbon khuấy trộn với không khí và hoạt động trao đổi chất vi sinh có hại sẽ được tiết giảm đến mức thấp nhất. Ý tưởng này sẽ giúp đất màu mỡ hơn, không khí trong sạch hơn, chi phí nhân lực và máy móc sẽ thấp hơn vì diện tích canh tác đã được tối ưu.

Khau phan an cho 10 ti nguoi nam 2050Một ý tưởng khả thi khác là nông nghiệp đô thị (vertical farming). Đây là mô hình khả thi cho những vùng địa lý không thích hợp để trồng trọt nông sản. Cụ thể hơn, nông sản sẽ được trồng trên những giá đỡ có nhiều tầng, trong một không gian được khống chế kỹ lưỡng về nhiệt độ và độ ẩm.

Các loại rau, củ, quả sẽ không tiếp xúc với đất mà sẽ được giữ trong cốc đặc chế, rễ cây sẽ trực tiếp lấy chất dinh dưỡng và nước tưới tiêu từ rãnh bên dưới. Vì không tiếp xúc với sinh quyển bên ngoài và đất trồng trọt, nông sản sẽ hạn chế tối đa sâu bệnh và năng suất sẽ tăng cao so với trồng tự nhiên trong môi trường khắc nghiệt. Đây là ý tưởng phù hợp với kỷ nguyên đô thị hóa khi đa số người dân đều sống tại thành phố lớn.

Ngoài ra, nhờ ánh sáng công nghệ của kỷ nguyên 4.0, nông dân giờ đây cũng có thể áp dụng công nghệ blockchain và IoT vào quy trình trồng trọt, quản lý nông sản. Khi nền tảng dữ liệu hoàn chỉnh, từng chi tiết nhỏ trong cả quy trình trồng trọt sẽ được mã hóa bằng blockchain và dễ dàng truy xuất bởi người tiêu dùng, nhà thu mua và cơ quan chức năng chuyên trách.

IoT sẽ tạo nền tảng dữ liệu cho các công nghệ hậu thuẫn AI (trí tuệ nhân tạo), dưới dạng các chatbot (hệ thống trực tuyến). Nhờ kho dữ liệu liên kết khổng lồ, nông dân có thể tương tác với chatbot khi họ cần biết những thông tin cần thiết trong trồng trọt. Chatbot giờ đây có thể đưa ra khuyến nghị về tính phù hợp của các loại hạt giống trên từng loại thổ nhưỡng khác nhau.

Vậy Việt Nam hiện ở đâu trên bản đồ nông nghiệp thời 4.0? Bức tranh nông nghiệp của Việt Nam trong cuộc cách mạng 4.0 dường như tập trung chủ yếu vào việc tự động hóa thu hoạch, bảo quản, vận chuyển và chế biến. Ý tưởng đồng bộ hóa dữ liệu tiêu dùng thị trường đến nhà máy sản xuất cũng đang dần manh nha xuất hiện trong bức tranh nông nghiệp 4.0.

Ông Nguyễn Thế Trung, Tổng Giám đốc Tập đoàn DTT, cho rằng làm nông nghiệp thời 4.0 là phải tự động từ nhà máy đến người mua hàng. Ví von như thị trường cà chua, ông cho rằng khi đó máy móc sẽ tự động tính toán nhu cầu tiêu thụ tại các siêu thị dựa trên IoT và tự động tính toán nguồn cung cần được trồng trọt tại các nông trại được kết nối dữ liệu.

Thời gian trồng trọt và tiêu thụ cũng sẽ được hoạch định theo thời gian thực để chất lượng sản phẩm được bảo đảm tối ưu. “Đó mới là nông nghiệp trong cách mạng công nghiệp 4.0, tức phải nắm được thông tin thị trường rồi từ đó quay lại điều khiển sản xuất, phân phối”, ông Trung nhấn mạnh.

Thị trường những năm gần đây cũng chứng kiến một loạt công ty lớn nhảy vào lĩnh vực nông nghiệp hiện đại như Vingroup, Thaco, FPT, Lộc Trời… Từ năm 2015, VinEco (thuộc Vingroup) đã điều hành nông trường Tam Đảo (Vĩnh Phúc) với ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất rau sạch. Diện tích nông trường lên đến 500ha, tổng vốn đầu tư 700 tỉ đồng. Tính đến nay, VinEco đã sở hữu 15 nông trại khắp cả nước, đặt tại Hà Nam, Quảng Ninh, Đồng Nai, TP.HCM…

Trong khi đó, nghiêng về lĩnh vực công nghệ thông tin hơn, FPT và đối tác Fujitsu(Nhật) đã ứng dụng công nghệ điện toán đám mây vào nông nghiệp để trồng thử nghiệm một số loại rau quả hoàn toàn tự động tại Hà Nội. Hướng tới đồng bộ hóa từ khâu sản xuất đến tiêu dùng, liên doanh Thaco – Lộc Trời cũng đã đầu tư hơn 7.800 tỉ đồng cho các dự án nông nghiệp đang triển khai.

“Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 là không giới hạn, cơ hội cho nông nghiệp cũng rất lớn. Vấn đề còn lại là các doanh nghiệp có dám làm hay không”, ông Nguyễn Liên Phương, Chủ tịch Học viện Doanh nhân LP Việt Nam, nhận định.

Theo nhipcaudautu.vn, bạn có thể đọc bài viết gốc TẠI ĐÂY

Mang kinh tế chia sẻ đến với giao hàng chặng cuối

Mang kinh tế chia sẻ đến với giao hàng chặng cuối

Với sự phát triển bùng nổ và cạnh tranh khốc liệt của thương mại điện tử, giao hàng nhanh chóng đã trở thành một bài toán cấp thiết để vừa giúp nâng cao chất lượng dịch vụ, vừa cải thiện hiệu quả về mặt chi phí cho doanh nghiệp. Bài viết này, VSCI xin trích lại những chia sẻ của ông Charles Brewer, CEO DHL eCommerce về DHL Parcel Metro  –một giải pháp mới, mang tính đột phá cho vấn đề này .

“Giao hàng nhanh chóng, trong cùng ngày hoặc ngay ngày hôm sau đã trở thành kỳ vọng của nhiều khách hàng trực tuyến. Và điều này sớm đã trở thành một thách thức lớn đối với các công ty logistics, đặc biệt là ở các thành phố lớn. Trong bối cảnh đấy, mô hình phân phối mới đã ra đời như là một cuộc cách mạng giao hàng đô thị.

Tại DHL eCommerce, tất cả chúng tôi luôn muốn đem đến sự hài lòng cho khách hàng với dịch vụ giao hàng chặng cuối. Nhưng đó không phải là điều dễ thực hiện. Kỳ vọng của khách hàng đã tăng lên theo cấp số nhân trong những năm qua. Nhờ vào hiệu ứng của Amazon Prime, người tiêu dùng đã xem việc giao hàng trong ngày như một tiêu chuẩn phải có chứ không còn là một tùy chọn bổ sung nữa. Theo eMarketer, khoảng 51% các nhà bán lẻ cung cấp giao hàng trong ngày vào năm 2017, đây là một bước nhảy lớn so với con số 16% trong năm 2016.

Khách hàng còn mong muốn có thể theo dõi đơn hàng của họ từ lúc đặt cho đến khi được giao. Trên thực tế, khoảng 47% người tiêu dùng sẽ không tiếp tục đặt hàng nữa nếu họ nhận thấy năng lực trực quan (visibility) hóa của đơn hàng là kém. Một thách thức nữa là tình trạng phân tán rải rác của dịch vụ giao hàng chặn cuối. Hiện tại có rất nhiều nhà cung cấp dịch vụ này tại các vùng và địa phương khác nhau đòi hỏi các nhà bán lẻ đều phải dành thời gian để quản lý. Chính điều này đã dẫn đến việc thiếu tính chuẩn hóa và tăng sự phức tạp không đáng có trong giao hàng chặng cuối.

47% người tiêu dùng sẽ không tiếp tục đặt hàng nữa nếu họ nhận thấy năng lực trực quan (visibility) hóa của đơn hàng là kém

Theo Accenture, 68% các nhà bán lẻ cho rằng mối quan hệ trực tiếp giữa người tiêu dùng và nhà vận chuyển là một trong những ưu tiên hàng đầu của họ. Khi mối quan hệ giữa các nhà bán lẻ và nhà vận chuyển bắt đầu dần mờ đi, các giải pháp giúp kết nối nhu cầu bán lẻ với nguồn cung cấp vận tải hàng hóa và tối ưu hóa cung cầu sẽ trở nên quan trọng hơn.

Đã đến lúc của những sự khác biệt

Tất cả những thách thức này đang dần gây áp lực to lớn cho các bên tham gia giao hàng chặng cuối trong khi các phương pháp truyền thống không trả lời được. Ta khó mà có thể đáp ứng được kỳ vọng giao hàng của khách hàng hoặc nhà bán lẻ với các tùy chọn giao hàng tiêu chuẩn nữa, đặc biệt là bên trong các thành phố lớn, bận rộn. Do vậy, một loại dịch vụ chuyển phát linh hoạt mới là cần thiết.

Đó là lý do tại sao chúng tôi ra mắt DHL Parcel Metro. Giải pháp mới, nhanh chóng, linh hoạt và trực quan hóa toàn diện này đã thay đổi bộ mặt của dịch vụ giao hàng đô thị ở các thành phố như New York, Los Angeles và Chicago. Vậy mó là gì? Bạn có thể nói nó giống như “Uber hóa” giao hàng chặng cuối. Về cơ bản, chúng tôi sử dụng ưu thế đám đông hay kinh tế chia s để làm cho giao hàng chặng cuối nhanh hơn và tiết kiệm chi phí hơn.

Giải pháp mới, nhanh chóng, linh hoạt và trực quan hóa toàn diện này đã thay đổi bộ mặt của việc giao hàng đô thị.

Nhưng đó không phải là tất cả. Ngoài việc cung cấp dịch vụ chuyển phát gần hơn với khách hàng, linh hoạt, hiệu quả chi phí, chúng tôi cũng đã hoàn thiện các tính năng kỹ thuật bổ trợ để nâng cao trải nghiệm giao hàng chặng cuối cho người tiêu dùng và đảm bảo tính minh bạch từ khi lấy hàng để giao (pick-up) cho đến lúc hàng được giao trước cửa nhà khách hàng.

Giao hàng trong ngày chỉ là chuyện nhỏ

Đó là một giải pháp đơn giản được thúc đẩy bởi công nghệ hiện đại. Các nhà bán lẻ có thể tiếp cận danh mục dịch vụ cung cấp thông qua thiết bị di động, và trải nghiệm trên nền tảng di động dễ tiếp cận và có khả năng tùy biến cao.

DHL Parcel Metro cung cấp cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ một giải pháp hiệu quả về mặt chi phí để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng, đồng thời mang đến cho khách hàng sự kiểm soát và minh bạch trong quá trình giao hàng. Nó cũng có khả năng nhân rộng cao. Với việc đã triển khai ở New York, Los Angeles và Chicago, kiến ​​thức và kinh nghiệm mà chúng tôi đã đạt được ở các thành phố này sẽ giúp dễ dàng nhân rộng ra các thành phố khác trên toàn cầu, tùy theo nhu cầu tại mỗi địa điểm.

Chúng tôi tin chắc rằng giải pháp mới với ngày giờ định rõ của mình là công cụ giải quyết vấn đề giao hàng đô thị đầy thách thức. Nhưng đừng chỉ nghe theo lời tôi ngay. Hãy chính mình thử nó! Bạn có thể tìm hiểu tất cả về Parcel Metro tại đây.”

Theo www.future-of-ecommerce.com

Ngày tàn của chuỗi cung ứng đã đến rồi chăng?

Ngày tàn của chuỗi cung ứng đã đến rồi chăng?

Chuỗi cung ứng là trái tim của doanh nghiệp. Nhà quản lý phải truy cập dữ liệu thời gian thực (real-time) để các ra quyết định trong chuỗi cung ứng. Tuy nhiên, hạn chế của công nghệ cũ là rào cản lớn khiến thông tin xuyên suốt cả chuỗi không minh bạch. Điều may mắn là vấn đề đó sẽ sớm được giải quyết trong tương lai. Những công nghệ số mới đang dần thay thế cách quản lý chuỗi cung ứng truyền thống. Chỉ trong vòng 5 – 10 năm nữa, quản lý chuỗi cung ứng có thể sẽ chỉ là quá khứ và được thay thế bằng những ứng dụng tự động xử lý toàn bộ dòng công việc với ít hoặc thậm chí không cần sự can thiệp của con người.

Với nền tảng kỹ thuật số phù hợp, doanh nghiệp có thể nắm bắt, phân tích, tích hợp, dễ dàng truy cập và hiểu những dữ liệu thời gian thực chất lượng cao được cung cấp hoặc sử dụng cho quá trình tự động hóa, phân tích dự báo, công nghệ trí thông minh nhân tạo, robotics. Những công nghệ này sẽ sớm thay thế cách quản lý chuỗi cung ứng truyền thống.

Các công ty đầu ngành đã bắt đầu khám phá những công nghệ này. Họ sử dụng roboticstrí thông minh nhân tạo trong việc số hóa hoặc tự động hóa các công việc có tính chất lặp lại như mua hàng, lập danh sách vật tư, thanh toán hay những thành phần khác của quy trình phục vụ khách hàng. Phân tích dự báo giúp doanh nghiệp cải thiện độ chính xác dự báo nhu cầu, khai thác tối ưu tài sản và gia tăng sự thuận tiện của khách hàng với chi phí tối ưu nhất.

Dữ liệu cảm biến trích từ quá trình sử dụng và bảo trì máy móc giúp nhà sản xuất dự báo, từ đó giảm thiểu số lần hư hỏng máy và thời gian chết máy (downtime). Công nghệ Chuỗi khối (Blockchain) đang cách mạng hóa cách thức liên kết, hợp tác giữa các đối tượng trong chuỗi cung ứng hiện đại. Ứng dụng robot nâng cao năng suất và biên lợi nhuận trong quản lý các kho hàng B2C và trung tâm phân phối. Thiết bị bay giao hàng Drones và thiết bị không người lái không chỉ còn trong mơ tưởng. Rio Tinto, một công ty khai khoáng toàn cầu, đang nghiên cứu cách thức ứng dụng công nghệ số vào quy trình vận hành từ bước khai khoáng đến xuất cảng ra hàng. Với những chuyến tàu không người lái, vận hành tự động bằng robot, hệ thống kiếm soát bằng camera, la-de, cảm biến, công ty giờ đây hoàn toàn có thể quản lý chuỗi cung ứng từ xa trong khi vẫn cải thiện mức độ an toàn, giảm thiểu nhu cầu nhân lực trong phạm vi gần.

Một trong những ứng dụng chính mà nhiều công ty đang đầu tư xây dựng đó là “đài số hóa kiểm soát” (Digital control tower). Đó là một trung tâm hỗ trợ ra quyết định ảo vận hành theo thời gian thực, kiểm soát toàn bộ quy trình quản lý chuỗi cung ứng toàn cầu. Ở vài công ty đầu ngành bán lẻ, “đài số hóa kiểm soát” đã trở thành trung tâm đầu não trong bộ máy vận hành. Một “đài số hóa kiểm soát” trên thực tế là một căn phòng đầy những chuyên viên phân tích dữ liệu ngồi trước các màn hình HD làm việc toàn thời gian 24/7. Màn hình này cung cấp thông tin thời gian thực và những mô hình 3D ở từng bước trong quy trình quản lý chuỗi cung ứng từ đặt hàng cho đến giao hàng. Các báo động ảo sẽ cảnh báo về sụt giảm tồn kho hoặc tình trạng “nút thắt cổ chai” (bottleneck) trước khi chúng kịp xuất hiện để doanh nghiệp có thể xử lý trước khi những vấn đề tiềm ẩn phát sinh trong thực tế. Những dữ liệu thời gian thực, độ chính xác dự báo, tập trung vào khách hàng, quy trình hoàn hảo và việc lãnh đạo có tính toán là nền tảng cho việc vận hành thành công “đài kiểm soát”  trong lĩnh vực bán lẻ.

Các công ty sản xuất cũng quan tâm đến “đài số hóa kiểm soát”. Một mạng lưới sản xuất phức tạp chứa hàng triệu bộ phận, linh kiện di chuyển trong nó mỗi này. Đài kiểm soát sẽ “phất cờ” những vấn đề cung ứng tiềm ẩn ngay khi chúng xuất hiện nguy cơ, sau đó tính toán tác động, hoặc là đài sẽ tự động xử lý vấn đề, hoặc là đài sẽ gửi thông báo vấn đề này cho đội chuyên viên. Tương tự, một công ty sản xuất thép đã xây dựng các công cụ lên kế hoạch các kịch bản có thể xảy ra cho nền tảng đài kiểm soát giúp tăng khả năng đáp ứng và linh hoạt của chuỗi cung ứng. Các công cụ này mô phỏng tầm nghiêm trọng của thời gian chết thiết bị (hay còn gọi là big hit) và chỉ dẫn những hành động phù hợp nhất để giảm thiểu rủi ro.

Tái thiết lập bộ kỹ năng cần thiết

Một xu hướng hiện ra rất rõ ràng: Công nghệ đang dần thay thế và làm tốt hơn con người trong quản lý chuỗi cung ứng. Không khó tưởng tượng một tương lai ngập tràn những quy trình tự động, sự thống trị của dữ liệu, cảm biến, robotic, trí thông minh nhân tạo và những phát minh tiếp nối sẽ tối thiểu hóa nhu cầu nhân lực. Còn lại gì cho các chuyên viên chuỗi cung ứng khi lên kế hoạch, mua hàng, sản xuất, hoàn thành đơn hàng và logistic đều tự động?

Trong ngắn hạn, chuyên viên quản lý chuỗi cung ứng sẽ phải chuyển hướng trọng tâm từ việc chỉ quản lý những nhân viên với các tác vụ lặp lại, đơn giản sang việc quản lý dòng thông tin, nguyên vật liệu với nhóm nhỏ nhân viên chuyên môn hóa cao. Trong tương lai gần, những chuyên viên chuỗi cung ứng có khả năng phân tích dữ liệu, hệ thống và đánh giá bộ dữ liệu, có khả năng sử dụng công nghệ số, xây dựng thuật toán và dự báo hiệu quả sẽ có giá trên thị trường.

Trong một tương lai xa hơn, một chuyên viên chuỗi cung ứng đúng chuẩn sẽ được kỳ vọng phải đưa ra những cải tiến trên nền tảng công nghệ để hỗ trợ cho các chiến lược, yêu cầu và ưu tiên trong phát triển doanh nghiệp. Để bộ máy hoạt động trôi chảy, nhóm nhỏ nhân lực đầu tiên sẽ được tuyển dụng hoặc đào tạo với những kỹ năng mới cần thiết cho vận hành, công nghệ trong thời đại mới. Trong thời gian chờ các kỹ năng này xuất hiện, thách thức lớn nhất cho doanh nghiệp chính là tạo dựng một tầm nhìn cho chuỗi cung ứng trong tương lai và chiến lược để bồi đắp nhân lực đủ kỹ năng còn thiếu.

Chúng ta có thể thấy rõ ràng ngày tàn của quản lý chuỗi cung ứng đang đến rất gần. Những quản lý và công ty sẵn sàng để cập nhật quy trình, kỹ năng thời đại mới sẽ dễ dàng vươn lên dẫn đầu trong tương lai.

Nguồn: Harvard Business Review, 06/2018

Sức hấp dẫn của hình thức Click and collect trong thương mại điện tử

Sức hấp dẫn của hình thức Click and collect trong thương mại điện tử

Trong những bài báo trước của Smartlog, chắc hẳn thuật ngữ “Click and Collect” (Đặt hàng trực tuyến và đến cửa hàng lấy hàng) đã được bắt gặp nhiều lần. Trong thế giới thương mại điện tử (e-commerce) mà các ông trùm như Amazon, Alibaba đang chiếm lĩnh, một xu hướng đang rầm rộ trong các nhà bán lẻ này và kể cả các nhà bán lẻ trực tuyến đơn lẻ khác nhằm gia tăng lợi thế cạnh tranh cho mình chính là ý tưởng “Click and Collect”. Loại hình này đã được phổ biến khá lâu nhưng dường như ở Việt Nam chưa được thịnh hành. Bài viết lần này Smartlog xin giới thiệu những thông tin cơ bản về ý tưởng Click and Collect và những lợi ích thực sự mà nó đem lại, không chỉ cho nhà bán lẻ mà cho cả người mua sắm, để chúng ta đánh giá xem, liệu mô hình này có thích hợp và nên được phát huy ở thị trường thương mại điện tử Việt Nam chăng? Nội dung bài này gồm 4 điểm chính:

  • Định nghĩa Click and Collect
  • Lợi ích dành cho người mua sắm
  • Lợi ích cho nhà bán lẻ
  • 3 yếu tố quan trọng khi cân nhắc mô hình Click and Collect

 

  1. Thế nào là Click and Collect?

Click and Collect (Đặt hàng trực tuyến và đến cửa hàng lấy hàng) cho phép người mua sắm mua các mặt hàng trực tuyến rồi sau đó chọn cách đến cửa hàng thực tế để lấy hàng; điều này kết hợp thương mại điện tử (e-commerce) và cửa hàng bán lẻ vật lý với nhau. Mô hình này thường có thể làm cho hành trình mua sắm thuận tiện hơn cho người tiêu dùng: mua hàng từ nhà của họ, và đến nhận các mặt hàng bất cứ khi nào thuận tiện nhất cho họ, thay vì trả tiền cho việc vận chuyển và có thể không mặt để nhận hàng, hoặc chờ đợi đến lúc hàng của họ được giao tới nơi.
Mô hình Click and Collect (còn được gọi là BOPIS – buy online pick up in store) đang trở nên phổ biến nhanh chóng. Khi được thực hiện đúng, nó sẽ mang lại những lợi ích cho người mua sắm cũng như nhà bán lẻ. Người mua hàng đánh giá cao việc tiết kiệm chi phí (vì việc mua hàng tại cửa hàng thường miễn phí), sự tiện lợi và tốc độ. Các nhà bán lẻ cũng có thể có lợi: một số nghiên cứu cho thấy rằng người tiêu dùng cuối cùng chi tiêu nhiều hơn 53% khi đến cửa hàng lấy các sản phẩm họ mua hàng trực tuyến! Hơn nữa, việc xử lý đơn hàng tại các cửa hàng hoặc thậm chí gửi hàng đến một cửa hàng thường hiệu quả về mặt chi phí hơn là gửi trực tiếp đến cho khách hàng. Tuy nhiên, nhiều nhà bán lẻ vẫn đang phải vật lộn để cung cấp loại dịch vụ vô cùng được mong muốn này, hoặc đang gặp khó khăn khi triển khai nó hiệu quả với cơ sở hạ tầng hiện có.

69% người mua hàng thích nhận các đơn đặt hàng trực tuyến tại cửa hàng để tránh phí vận chuyển.
LoyaltyOne

Để đáp ứng kỳ vọng của khách hàng về một trải nghiệm liền mạch, cá nhân hóa và phù hợp, các nhà bán lẻ cần phải đồng bộ hóa và điều chỉnh vận hành giữa các kênh để hoạt động thống nhất với người tiêu dùng. Mặc dù một thương hiệu có thể hoạt động trên nhiều kênh, người tiêu dùng vẫn coi họ là một, như một công ty duy nhất. Mô hình Click and Collect có những thách thức nhất định đối với các nhà bán lẻ trong việc triển khai, có thể bao gồm:

Hệ thống lỗi thời

Nhiều cơ sở hạ tầng, kiến ​​trúc và ứng dụng hiện có của các nhà bán lẻ bị lỗi thời và không kết nối với nhau, và công nghệ không thể theo kịp những cách mới trong việc phục vụ khách hàng.

Các giải pháp không đồng bộ

Nhiều hệ thống hiện tại mà các nhà bán lẻ đang sử dụng ban đầu được thiết kế cho một kênh duy nhất. Việc vận hành các hệ thống này thường gây ra những thách thức bất ngờ, ví dụ như chi phí bổ sung cho việc bảo trì, tích hợp kém, nguy cơ bị lỗi và năng suất giảm.

Các quy trình thủ công và không hiệu quả

Nhiều phương pháp thủ công và giấy bút vẫn đang được sử dụng trong các cửa hàng, quản lý các đơn đặt hàng của khách hàng hoặc lưu giữ và chuyển hàng.

Thông tin khách hàng không chính xác

Thiếu thông tin tập trung của khách hàng khiến cho cửa hàng chỉ thấy được một phần hồ sơ khách hàng, có thể dẫn đến dịch vụ khách hàng kém hơn.

Khả năng hiển thị tồn kho không đầy đủ

Thiếu khả năng hiển thị theo thời gian thực (real-time visibility) đối với hàng tồn kho và kết quả bán hàng gây nên việc thiếu kiểm soát tồn kho (inventory) và trong các quyết định phân bổ nguồn lực và mua sắm không sáng suốt.

Tại Úc, 42% số nhà bán lẻ hiện đang cung cấp loại hình Click and Collect, và có lẽ là để phản ứng lại với mối đe dọa từ sự gia nhập của Amazon, con số này đã tăng từ 24% vào năm 2015. Để hỗ trợ cho việc lấy đơn hàng tại cửa hàng, 38% nhà bán lẻ cũng cho phép khách hàng trả lại các sản phẩm mua hàng trực tuyến tại cửa hàng.

So với Úc, 36% nhà bán lẻ ở Tây Âu và 31% các nhà bán lẻ ở Bắc Mỹ cung cấp dịch vụ Click and Collect. Thị trường Click and Collect của Anh dự kiến ​​sẽ tăng 78% vào năm 2020, lên tới 8,2 tỷ bảng Anh. Điều này không gây ngạc nhiên khi có sự cạnh tranh khốc liệt giữa các nhà bán lẻ trong thị trường Anh và sự thay đổi chiến lược từ giá cả sang tiện lợi.

  1. Tại sao người mua sắm chọn click and collect?

Khách hàng đang chấp nhận loại hình BOPIS bởi vì nó mang lại cho họ sự hài lòng ngay lập tức nhưng với chi phí tiết kiệm khi giao hàng. Click and Collect cung cấp sự tức thời việc giao hàng tại nhà truyền thống thường không thể đáp ứng được, đặc biệt là ở Úc, nơi thời gian giao hàng truyền thống chậm so với các tiêu chuẩn quốc tế.

Tùy thuộc vào loại hàng hóa mà khách hàng đang mua, chi phí giao hàng có thể cao. Tại Mỹ, 73% người mua sắm ở siêu thị cho biết họ sẽ đến lấy hàng trong cửa hàng để tránh chi phí vận chuyển và 30% cho biết họ không chuẩn bị chi việc chờ đợi đơn hàng trực tuyến của mình được giao.

Loại hình dịch vụ nhận hàng tại cửa hàng cũng giúp khách hàng tránh được các vấn đề về các dịch vụ giao hàng không chuyên nghiệp và tránh việc hàng bị trả lại kho.

Nhận hàng tại cửa hàng đặc biệt tiện dụng cho khách hàng mua hàng trực tuyến ngay trước cuối tuần hoặc vào các thời điểm mua sắm cao điểm như Giáng sinh và Lễ Phục sinh khi thời gian là điều quan trọng. Nó cũng có thể giúp giải quyết các vấn đề giao hàng cho nhiều khách hàng sống trong các căn hộ chung cư, hoặc sống hoặc làm việc trong các khu vực khó tiếp cận. Ngày càng có nhiều khách hàng nhận thấy thật thuận tiện khi đặt hàng trực tuyến và sau đó nhận hàng của họ trong giờ ăn trưa hoặc trên đường về nhà.

Mua sắm trực tuyến thường không cho phép việc chạm vào sản phẩm – nhưng lấy hàng tại cửa hàng cho phép đánh giá chất lượng, cũng như màu sắc, phong cách và kích cỡ trước khi khách hàng rời khỏi cửa hàng. Bất kỳ vấn đề nào có thể được giải quyết ngay lập tức trong cửa hàng và việc trả hàng thậm chí có thể được xử lý tại cùng một thời điểm nếu sản phẩm không đáp ứng được yêu cầu của khách hàng.

Với việc nhiều nhà bán lẻ ngày càng tránh xa cuộc chiến giá trực tuyến truyền thống và nhận ra tầm quan trọng của việc kết nối với khách hàng thông qua nhiều kênh và các điểm tiếp xúc, hình thức Click and Collect là tiến trình tự nhiên trong việc khuyến khích khách hàng trở lại các cửa hàng thực tế.

  1. Tại sao nhà bán lẻ áp dụng loại hình Click and Collect?

Các nhà bán lẻ có thể tiết kiệm rất nhiều đối với hình thức Click and Collect. Nó giúp giảm chi phí vận hành và thúc đẩy mua sắm nổi hứng của khách hàng. Các nhà bán lẻ cũng nhận thấy rằng lấy hàng tại cửa hàng cũng cung cấp cho họ nhiều cơ hội để kết nối với khách hàng và nâng cao trải nghiệm của khách hàng.

Một trong những lợi ích chính cho các nhà bán lẻ từ những người mua hàng đến cửa hàng để nhận hàng mà họ đã mua trực tuyến là gần 50% khách hàng mua hàng tùy hứng. Một nghiên cứu của Bell và Howell đối với 530 người mua sắm cho thấy 49% khách hàng có khả năng mua một mặt hàng bổ sung khi đến lấy đơn hàng mà họ đã mua trực tuyến.

Hội đồng Trung tâm Thương mại Quốc tế đã phát hiện ra rằng 61% người mua sắm khi đến cửa hàng nhận hàng mà họ đã mua trực tuyến đã mua thêm. Tỷ lệ này cao hơn đối với những người mua sắm trẻ tuổi, với 75% người trong độ tuổi từ 35 trở xuống bất chợt mua sắm thêm khi đến nhận hàng.

Cung cấp Click and Collect  cũng có nghĩa là khách hàng cảm thấy thoải mái hơn về việc trả lại hàng. Một báo cáo của công ty đóng gói UPS đã phát hiện ra rằng 82% người mua hàng có khuynh hướng mua hàng trực tuyến hơn nếu họ có thể trả lại sản phẩm trong cửa hàng.
Các nhà bán lẻ truyền thống (bricks and mortar) nhận thấy loại hình Click and Collect là một cách để tạo cho mình sự khác biệt hóa và bảo vệ mình trong cuộc cạnh tranh với những người chơi trực tuyến. Tại Mỹ, Walmart thông báo vào tháng trước rằng nó sẽ cung cấp giảm giá cho những người mua hàng đặt hàng trực tuyến, nhưng đã chọn lấy hàng trong các cửa hàng như là một chiến thuật để chống lại Amazon.

Khi Amazon đã bắt đầu có mặt thị trường tại Úc, bất kỳ lợi thế cạnh tranh nào cũng sẽ là một lợi thế. Triển khai Click and Collect vào một cửa hàng cho phép các nhà bán lẻ để rút ngắn thời gian bán hàng.

Nhưng việc đưa sản phẩm đến khách hàng sẽ tiếp tục là một thách thức đối với các nhà bán lẻ.

Vì vậy, chúng ta có thể mong đợi nhiều nhà bán lẻ sẽ chấp nhận một loại hình Click and Collect chiến lược. Nếu bạn không thể đưa được sản phẩm đến khách hàng, hãy đưa khách hàng đến với sản phẩm.

  1. Ba yếu tố quan trọng khi cân nhắc mô hình Click and Collect

Sự thành công của một chiến lược bán lẻ Click and Collect phụ thuộc vào ba trụ cột chính về công nghệ: nền tảng thương mại điện tử, hệ thống quản lý đơn đặt hàng (OMS) và điểm bán hàng (POS).

Nền tảng thương mại điện tử

Nền tảng thương mại điện tử là yếu tố tiếp xúc trực tiếp với khách hàng trong hành trình mua sắm đa kênh (omni-channel). Nó cho phép người tiêu dùng tham gia, nghiên cứu và mua hàng trên web, máy tính bảng, điện thoại di động và thường là, thông qua các phương tiện truyền thông xã hội. Rất nhiều nền tảng thương mại điện tử hiện đại hỗ trợ giao diện đầu cuối cho loại hình Click and Collect, nhưng nơi các nhà bán lẻ thường phải đối mặt với những thách thức là khi họ cố hợp nhất kênh trực tuyến với các hệ thống bán lẻ, đó là lý do tại sao OMS và POS tập trung, tích hợp là rất quan trọng.

Hệ thống quản lý đặt hàng (OMS)

Hệ thống quản lý đơn đặt hàng ngày nay phải có nhiều chức năng hơn là chỉ đơn giản quản lý các đơn đặt hàng chỉ qua trực tuyến hoặc chỉ qua cửa hàng. Các nhà bán lẻ cần kho trung tâm cho hàng tồn kho và đơn hàng và yêu cầu một OMS có thể thúc đẩy các trung tâm xử lý đơn hàng trong toàn doanh nghiệp. Các nhà bán lẻ cần có OMS để di chuyển hàng tồn kho hiệu quả và giao hàng cho người tiêu dùng theo cách xử lý đơn hàng mà họ mong muốn. Để nền tảng thương mại điện tử và POS hoạt động hiệu quả, OMS cũng phải trao quyền cho các nhà bán lẻ với các công cụ cần thiết để cung cấp dịch vụ khách hàng đặc biệt và cung cấp trải nghiệm khách hàng liên tục trên tất cả các kênh.

Điểm bán hàng (POS)

Một hệ thống POS tại cửa hàng hiện đại, được thiết kế tốt là một thành phần thiết yếu của một hệ sinh thái bán lẻ đa kênh (omni-channel). Các hệ thống POS cho phép các cộng sự hoàn thành chu trình mua hàng đa kênh (omni-channel) bằng cách tiến hành giao hàng tại của hàng cho các đơn hàng được đặt trực tuyến, hoặc thậm chí đặt một đơn hàng mà sẽ được xử lý từ một cửa hàng hoặc nhà kho khác. Tất cả các đơn đặt hàng được xử lý tại POS đều được đưa vào OMS để có cái nhìn toàn diện về đơn hàng của khách hàng trên tất cả các kênh.

Có được kiến ​​trúc và công nghệ phù hợp để hỗ trợ các quy trình đa kênh (omni-channel) như Click and Collect cũng giống như có một nền tảng vững chắc cho một ngôi nhà: nó tạo ra nền tảng cho các quy trình hiệu quả và tăng trưởng dài hạn.
—–
Nguồn: Smartlog tổng hợp

Crowdsourcing – vị cứu tinh của giao hàng chặng cuối

Crowdsourcing – vị cứu tinh của giao hàng chặng cuối

Sự phát triển nhanh chóng của thương mại điện tử và kỳ vọng của người tiêu dùng lúc nào cũng thay đổi nhanh chóng đòi hỏi các công ty phân phối phải suy nghĩ và hành động sáng tạo. Để giành chiến thắng trong thị trường giao hàng chặng cuối (final mile hay last-mile delivery), các hãng vận tải không chỉ cần phải xử lý sản lượng cao đột biến, mà còn phải làm cho tốt việc giao hàng cùng ngày, theo yêu cầu và giao hàng vào ban đêm. Làm thế nào các công ty phân phối có thể tận dụng tối đa những xu hướng này trong khi bảo vệ thị phần của họ khỏi những doanh nghiệp mới gia nhập? Chúng tôi tin rằng câu trả lời nằm ở crowdsourcing.
(more…)